- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2023/HSST. Ngày: 03 - 8 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kỳ Việt.
Các Hội thẩm nhân nhân: Ông Lò Văn Dưỡng, Bà Vì Thị Thuỷ.
- Thư ký phiên toà: Bà Tòng Thị Duyên – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Giàng A Mơ – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2023/HSST ngày 11 tháng 7 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2023/QĐXXST – HS ngày 21 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Lò Văn S; tên gọi khác: Không; sinh năm 1988 tại: Huyện Đ B Đ, tỉnh Điện Biên; nơi cư trú: Bản C, xã P H, huyện Đ B Đ, tỉnh Điện Biên; số định danh cá nhân: 011088xxxxxx nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; con ông Lò Văn P, sinh năm 1954 và bà Lường Thị T, sinh năm 1954; bị cáo có vợ là Quàng Thị L, sinh năm 1985 và có 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 05/4/2023, chuyển tạm giam ngày 14/4/2023 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 18 giờ 20 phút ngày 04/4/2023, tại khu vực bản Nà Trịa, xã Sam Kha, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, tổ công tác Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La phối hợp với Công an xã Sam Kha, huyện Sốp Cộp trong quá trình làm nhiệm vụ đã phát hiện, bắt quả tang Lò Văn S (Sinh năm: 1988, trú tại: Bản C, xã P H, huyện Đ B Đ, tỉnh Điện Biên) về hành vi cất dấu trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ gồm: Thu trong lòng bàn tay phải Lò Văn S 01 gói nilon màu xanh, bên trong có 01 gói nilon màu trắng chứa 10 viên nén đồng dạng hình trụ tròn màu hồng (Nghi là ma túy);
Ngày 05/4/2023, tại cơ quan CSĐT Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, đã tiến hành cân tịnh số vật chứng là 10 viên nén đồng dạng hình trụ tròn màu hồng do thu giữ của Lò Văn S, có tổng khối lượng là 0,98 gam (Không phẩy chín mươi tám gam). Lấy 05 viên có tổng khối lượng 0,49 gam ký hiệu S làm mẫu gửi giám định. Số còn lại 05 viên có tổng khối lượng 0,49 gam ký hiệu S1 lưu kho vật chứng.
Tại bản Kết luận giám định số: 754/KL-KTHS ngày 06/4/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: " Mẫu gửi giám định ký hiệu S là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,49 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,98 gam, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra, bị can Lò Văn S đã khai nhận hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 04/4/2023, Lò Văn S một mình đi bộ từ nhà ở bản C, xã P H, huyện Đ B Đ, tỉnh Điện Biên đến bản Nà Trịa, xã Sam Kha, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La để tìm mật ong rừng, khi đến trung tâm xã Pú Hồng thì S gặp 01 người đàn ông không quen biết tự giới thiệu tên là Thào, S đã chủ động hỏi và mua được của người này 10 viên ma tuý với giá 200.000 đồng với mục đích để sử dụng cho bản thân. Sau khi nhận gói nilon màu trắng chứa 10 viên ma tuý do người đàn ông tên Thào đưa, thì S gói thêm một lớp bên ngoài bằng một mảnh nilon màu xanh rồi cầm trong lòng bàn tay phải và tiếp tục đi bộ đến khu rừng thuộc bản Nà Trịa, xã Sam Kha, huyện Sốp Cộp để tìm lấy mật ong rừng, tuy nhiên khi S vừa đến khu vực bản Nà Trịa thì đã bị tổ công tác Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La phối hợp với Công an xã Sam Kha, huyện Sốp Cộp phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ 10 viên ma tuý, loại Methamphetamine khối lượng 0,98 gam như đã nêu.
Tại bản Cáo trạng số: 36/CT - VKSSC ngày 10/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, đề nghị truy tố bị can Lò Văn S về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, giữ quan điểm truy tố bị cáo Lò Văn S về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Lò Văn S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý và xử phạt bị cáo mức án từ 20 đến 24 tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;
- Tuyên tịch thu tiêu hủy: 0,49 gam Methamphetamine; 01 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh ni lon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở.
Về án phí: Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Miễn cho bị cáo không phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo có ý kiến: Thừa nhận ngày 04/4/2023 đã bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép 0,98 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo thành khẩn khai nhận tội mà giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 04/4/2023, bị cáo Lò Văn S (Có căn cước lý lịch như trên) đã bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép 0,98 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự để biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vật nhà nước cấm mua, bán, tàng trữ sử dụng, nhưng vì không tu dưỡng bản thân mắc nghiện ma tuý mà cố ý mua, tàng trữ để thỏa mãn cơn nghiện. Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ là ma túy; kết luận giám định về ma túy và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Lò Văn S đã phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tại Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“ 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, Cocaine,Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến lĩnh vực độc quyền thống nhất quyền quản lý nhà nước về các chất ma tuý. Hành vi tàng trữ trái phép 0,98 gam ma tuý, loại Methamphetamine nhằm sử dụng cho bản thân trước hết là xâm hại đến chính sức khỏe của bị cáo, sau là hành vi tiếp tay cho loại tội phạm khác như mua bán, vận chuyển trái phép chất ma tuý trong xã hội gia tăng; là nguyên nhân làm phát sinh, lây lan tệ nạn sử dụng trái phép chất ma túy trong xã hội hiện nay. Tội phạm bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng, do đó cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian đủ mức trừng trị răn đe, giáo dục và cải tạo bị cáo thành người công dân có ý thức chấp hành pháp luật.
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: Xét quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai nhận tội. Nên được xem xét áp dụng là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo không có tài sản để thi hành. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: 0,49 gam Methamphetamine (Số còn lại sau khi trích rút 0,49 gam gửi giám định); 01 mảnh nilon màu xanh và 01 mảnh ni lon màu trắng là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, trong đó 0,49 gam ma tuý và là vật cấm lưu hành nên cần áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; để tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đối với nguồn gốc ma túy bị bắt giữ, theo bị cáo khai do mua của một người đàn ông gặp lần đầu tự giới thiệu tên Thào ở trung tâm xã Pú Hồng, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên Đông. Quá trình điều tra bị cáo không cung cấp được thông tin cụ thể về họ tên và đặc điểm nhận dạng của đối tượng. Do vậy không có cơ sở để điều tra, xử lý và bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với khối lượng ma túy bị bắt giữ.
Bị cáo thuộc hộ gia đình nghèo theo quy định của chính phủ, nên được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Lò Văn S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Xử phạt bị cáo Lò Văn S 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 05/4/2023 (Ngày tạm giữ bị cáo).
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;
- Tuyên tịch thu tiêu huỷ: 01 (Một) phong bì thư của Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, đã được niêm phong dán kín bằng giấy niêm phong, một mặt phong bì ghi: "Vật chứng lưu kho vụ: Lò Văn S - Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 04/4/2023 tại khu vực bản Nà Trịa, xã Sam Kha, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Bên trong phong bì có chứa: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh ni lon màu xanh đựng ban đầu; 01 mảnh nilon màu trắng đựng ban đầu; 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa 05 viên nén đồng dạng hình trụ tròn màu hồng có tổng khối lượng 0,49 gam, ký hiệu S1". (Theo kết luận giám định số 754/KL-KTHS ngày 06/4/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, thì 05 viên nén đồng dạng hình trụ tròn màu hồng có tổng khối lượng 0,49 gam, ký hiệu S1 là ma túy, loại Methamphetamine).
3. Về án phí:
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Miễn cho bị cáo không phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Báo cho bị cáo biết quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (03/8/2023)./.
| Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh; - Viên kiểm sát ( 02 bản ); - Sở tư pháp; - Công an huyện; - THA hình sự - THA dân sự huyện; - Trại giam; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; - Lưu VPTA ( 01 bản ). | T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kỳ Việt |