- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Minh H- tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Lữ Văn Giang phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2023/HS-ST Ngày 19 - 4 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Cao Thị Lan Anh.
- Các Hội thẩm nhân dân: bà Đỗ Thị Lan và ông Lại Văn Bảo.
- Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Phạm Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19/4/2023 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2023/TLST-HS ngày 09/3/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Minh H; tên gọi khác: không; sinh ngày 16 tháng 3 năm 1999 tại Lê Chân, Hải Phòng; nơi cư trú: số nhà B, ngõ T, đường C, phường K, quân Lê Chân, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: tổ N khu C, phường S, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn D và bà Nguyễn Thị H1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giam ngày 19/12/2022 - có mặt.
* Người làm chứng: ông Nguyễn Văn K; ông Diệp Quý K1- đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 10 giờ 45 phút ngày 19/12/2022, tại tổ 8, khu An Sơn, phường Cẩm Sơn, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, Lê Minh H có hành vi tàng trữ trái phép 0,216 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị Công an thành phố Cẩm Phả bắt quả tang.
Tại bản kết luận giám định số 2037/KL-KTHS ngày 24/12/2022 của Phòng kỹ thuật Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: chất tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon kích thước khoảng (2,5x2,5)cm thu giữ của Lê Minh H là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 0,216gam (không phẩy hai một sáu gam).
Tại phiên tòa, Lê Minh H khai nhận: H sử dụng ma túy đá từ đầu năm 2022, khoảng 10h giờ 30 phút ngày 19/12/2022, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên H đi bộ từ nhà đến khu vực tổ 8, khu An Sơn, phường Cẩm Sơn, thành phố Cẩm Phả hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá của 01 người đàn ông không quen biết để sử dụng. Người đàn ông nói với H là vào ngõ 168, đường Hoàng Quốc Việt, phường Cẩm Sơn để giao dịch. Khi cả hai vào trong ngõ H đưa cho người đàn ông 01 tờ tiền 500.000 đồng, người đàn ông đưa lại 01 bao thuốc lá Thăng Long bên trong có ma túy đá. H cất số ma túy vào túi áo khoác và đi tìm chỗ sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt giữ. Số tiền 500.000 đồng trên do H lao động mà có.
Tại bản Cáo trạng số 32/CT-VKSCP ngày 07/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh truy tố Lê Minh H tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả trình bày lời luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị hội đồng xét xử: ap dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt Lê Minh H mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt; về vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu, tiêu hủy số ma túy và vỏ bao gói trong niêm phong số 2037/KL-KTHS hoàn lại sau giám định; về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm Phả, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được qui định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến kH nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên toà bị cáo khai nhận hành vi cất giữ 0,216 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng đúng như bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra đồng thời phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, bản ảnh vật chứng, phù hợp với lời khai của những người làm chứng ông Nguyễn Văn K; ông Diệp Quý K1về việc chứng kiến việc cơ quan công an bắt, thu giữ, niêm phong vật chứng khi bắt giữ Lê Minh H; phù hợp với vật chứng thu giữ và kết luận giám định số 2037/KLGĐ ngày 24/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận: Hồi 10 giờ 45 phút ngày 19/12/2022, tại tổ 8, khu An Sơn, phường Cẩm Sơn, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, Lê Minh H có hành vi tàng trữ trái phép 0,216 gam (không phẩy hai một sáu gam) ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự nên có cơ sở chấp nhận lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tại phiên tòa.
Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy mà còn tiếp tay cho các đối tượng mua bán ma tuý khác gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Mặc dù hiểu rõ tác hại của ma túy song do ý thức chấp hành pháp luật kém, để phục vụ cho nhu cầu sử dụng của mình bị cáo đã cất giữ ma túy trong người. Hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Xét tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân: bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung song xét bị cáo là đối tượng nghiện, không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ trong vụ án: 0,216 gam Methamphetamine, sau giám định hoàn lại 0,17 gam (không phẩy một bảy gam) là vật Nhà nước cấm lưu hành cùng 01 vỏ bao gói trong niêm phong số 2037/KL-KTHS cần tịch thu tiêu hủy;
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Đối với người bán trái phép chất ma túy cho H, do không biết lai lịch, địa chỉ nên không đủ căn cứ làm rõ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Lê Minh H phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Xử phạt: Lê Minh H 15(mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt ngày 19/12/2022.
- Về vật chứng: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu huỷ 01 (một) phong bì còn nguyên dấu niêm phong số 2037/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 99/BB-THA ngày 17/3/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
- Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh QN;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh QN ;
- VKSND TP.Cẩm Phả;
- CQ CSĐT CA TP.Cẩm Phả;
- CQ THAHS Công an TP.Cẩm Phả ;
- Chi cục THADS TP.Cẩm Phả;
- Nhà tạm giữ công an TP Cẩm Phả;
- Bị cáo;
Cao Thị Lan Anh
- Lưu hồ sơ, văn phòng. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh QN;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh QN ;
- VKSND TP.Cẩm Phả;
- CQ CSĐT CA TP.Cẩm Phả;
- CQ THAHS Công an TP.Cẩm Phả ;
- Chi cục THADS TP.Cẩm Phả;
- Nhà tạm giữ công an TP Cẩm Phả;
- Bị cáo;
Cao Thị Lan Anh
- Lưu hồ sơ, văn phòng. Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh QN;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh QN ;
- VKSND TP.Cẩm Phả;
- CQ CSĐT CA TP.Cẩm Phả;
- CQ THAHS Công an TP.Cẩm Phả ;
- Chi cục THADS TP.Cẩm Phả;
- Trại tạm giam công an tỉnh Quảng Ninh;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ, văn phòng.
Cao Thị Lan Anh
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ CẨM PHẢ
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: ...../2022/HS-ST
Ngày .... - 12 - 2022
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Cao Thị Lan Anh.
- Các Hội thẩm nhân dân: ………………………………
- Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Phạm Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22/12/2021 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 198/2022/TLST-HS ngày 30/11/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 192/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lữ Văn Giang; tên gọi khác: không; sinh ngày 05 tháng 11 năm 1983 tại Cẩm Phả, Quảng Ninh; nơi cư trú: Tổ 4, khu Minh Tiến B, phường Cẩm Bình, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lữ Văn Kính(đã chết) và bà Hoàng Thị Bình; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 04/11/2010 Công an thị xã Cẩm Phả, Quảng Ninh bắt và lập danh chỉ bản số 3397 về việc đưa vào cơ sở chữa bệnh; bị bắt, tạm giam ngày 28/9/2022; có mặt.
* Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn A; Ông Nguyễn Văn Hải - đều
vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 17 giờ 40 phút ngày 28/9/2022, tại khu vực tổ 93, khu 7B, phường Cẩm Phú, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, Lữ Văn Giang có hành vi tàng trữ trái phép 0,471 gam chất ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị Công an thành phố Cẩm Phả bắt quả tang.
Tại phiên tòa bị cáo Lữ văn Giang Khai: ................................................
Những người làm chứng anh Nguyễn Văn A; anh Nguyễn Văn Hải vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện nội dung chứng kiến việc cơ quan công an bắt giữ Lữ Văn Giang và thu giữ ........trong chứa tinh thể màu trắng mà Bình khai là Methamphetamine mua về sử dụng.
Tại bản Cáo trạng số 200/CT-VKSCP ngày 25/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh truy tố Lữ Văn Giang tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả trình bày lời luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị hội đồng xét xử: Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt Lữ Văn Giang mức án từ ..... tháng đến ....... tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt; Về vật chứng: Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu, tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định; Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm Phả, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được qui định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến kH nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà bị cáo khai nhận hành vi cất giữ 0,471 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng đúng như bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra đồng thời phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, vật chứng thu giữ và kết luận giám định số 1650/KLGĐ ngày 03/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận: Hồi 17 giờ 40 phút ngày 28/9/2022, tại khu vực tổ 93, khu 7B, phường Cẩm Phú, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, Lữ Văn Giang có hành vi tàng trữ trái phép 0,471 gam chất ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự nên có cơ sở chấp nhận lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tại phiên tòa.
Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy mà còn tiếp tay cho các đối tượng mua bán ma tuý khác gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Mặc dù hiểu rõ tác hại của ma túy song do ý thức chấp hành pháp luật kém, để phục vụ cho nhu cầu sử dụng của mình bị cáo đã cất giữ ma túy trong người. Hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Xét tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2010 đã bị đưa đi chữa bệnh. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo chưa có tiền án tiền sự.
Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung song xét bị cáo là đối tượng nghiện, không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ trong vụ án: 0,471 gam Methamphetamine, sau giám định hoàn lại 0,42 gam, là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy;
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Đối với người phụ nữ tên Yến bán ma túy cho Giang, do Giang không biết lai lịch địa chỉ nên đủ cơ sở để làm rõ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Lữ Văn Giang phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Xử phạt: Lữ Văn Giang............................... tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt ngày 28/9/2022.
- Về vật chứng: Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu huỷ 01 (một) phong bì còn nguyên dấu niêm phong số 1650/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số ..../BB-THA ngày ....................... tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh QN; - VKSND tỉnh QN ; - VKSND TP.Cẩm Phả; - CQ CSĐT CA TP.Cẩm Phả; - CQ THAHS Công an TP.Cẩm Phả ; - Chi cục THADS TP.Cẩm Phả; - Trại tạm giam công an tỉnh Quảng Ninh; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thị Lan Anh |