- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Hữu N đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2023/HS-ST Ngày: 01-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Xuân Đức.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Xuân Mai
Ông Nguyễn Vạn Phúc
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Anh – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Đông – Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 62/2023/HS-ST ngày 05 tháng 7 năm 2023, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2023/HSST-QĐ ngày 19 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
PH M H U N, giới tính: nam; sinh ngày 24-9-2000 tại Khánh Hòa; trú tại: Thôn V, xã C, huyện L, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở: không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: nhân viên; trình độ văn hóa: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hữu H và bà Nguyễn Thị X Thu; tiền án, tiền sự: không; bị bắt phạm tội quả tang ngày 25-3-2023. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 24/3/2023, Tổ tuần tra 363 số 4 Công an Thành phố Hồ Chí Minh khi đang tuần tra đến trước số 544 Cách Mạng Tháng 8, Phường 11, Quận 3 thì phát hiện Phạm Hữu N điều khiển xe máy biển số 75F1-037.08 lưu thông không đội nón bảo hiểm, có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính thì N không có giấy phép lái xe, không xuất trình được giấy đăng ký xe nên Tổ tuần tra đưa Nghĩa về Công an Phường 11, Quận 3. Quá trình kiểm tra, Công an Phường 11, Quận 3 phát hiện trong túi quần phía sau bên phải của N có 01 bóp nam, bên trong bóp có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu N khai nhận là ma túy mua của 01 người phụ nữ (không rõ lai lịch) với giá 200.000 đồng tại hẻm 191 Nguyễn Phúc Nguyên, Phường 10, Quận 3 để sử dụng cho bản thân. Sau đó, Công an Phường 11, Quận 3 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 3 xử lý.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 3, Phạm Hữu N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Tại Kết luận giám định số 2790/KL-KTHS ngày 31/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Phạm Hữu N và hình dấu Công an Phường 11, Quận 3 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1985 gam loại Methamphetamine.
Theo bản Cáo trạng số 62/CT-VKS-HS ngày 04-7-2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đã truy tố bị cáo Phạm Hữu Ng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa hôm nay, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy số ma túy do Công an Quận 3 thu giữ; giao trả 01 điện thoại di động cho bị cáo.
Bị cáo Phạm Hữu N đã nhận thấy hành vi vi phạm pháp luật của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 3, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an Phường 11, Quận 3 lập ngày 25-3-2023, Bản kết luận giám định số 2790/KL-KTHS ngày 31-3-2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh; lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận: ngày 25-3-2023, bị cáo Phạm Hữu N đã bị bắt quả tang có hành vi cất giữ trái phép 0,1985g loại Methamphetamine là đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp được qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Phạm Hữu N hoàn toàn biết rõ tác hại của việc mua bán cũng như tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng vẫn bất chấp và lao vào con đường phạm tội. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy do bị cáo Nghĩa thực hiện không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý các chất ma túy và bài trừ tệ nạn sử dụng trái phép chất ma túy mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh các tội phạm khác và làm lan truyền các căn bệnh nguy hiểm chưa có thuốc chữa trong nhân dân; do vậy bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành vi mình đã gây ra.
Tuy nhiên cũng xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn nhận tội, có thái độ thật sự ăn năn hối cải; do đó áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo khi lượng hình là có căn cứ.
Vật chứng của vụ án: Xét số ma túy do Cơ quan điều tra thu giữ là vật cấm lưu hành, tàng trữ nên tịch thu và tiêu hủy; 01 điện thoại di động của bị cáo không liên quan đến vụ án nên giao trả lại.
Đối với 01 xe máy 01 xe máy hiệu Airblade màu vàng đen, biển số 75F1-037.08. Qua xác minh chiếc xe do chị Trương Thị T đứng tên chủ sở hữu, chị T giao xe máy cho chồng là anh Nguyễn Chương B sử dụng, Phạm Hữu N mượn xe máy trên của anh B để đi công việc nhưng sau đó đi mua ma túy để sử dụng, anh B không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 3 đã trả lại xe máy cho anh Nguyễn Chương B là có căn cứ do đó tòa miễn xét.
Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Phạm Hữu N do chưa xác định được lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục truy xét khi nào làm rõ xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phạm Hữu N đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Phạm Hữu N 01 (một) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt phạm tội quả tang là ngày 25 tháng 3 năm 2023.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu và tiêu hủy 01 gói ký hiệu 637/23, mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: tinh thể không màu có khối lượng 0,1680g được niêm phong có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn t Lớn và chữ ký cán bộ điều tra Lê Minh Sang;
Giao trả cho bị cáo 01 điện thoại di động mặt sau ghi chữ Iphone, màu vàng, mặt sau không thể hiện số Imei. Tình trạng đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy bên trong.
(Tài sản tịch thu, tiêu hủy và giao trả ghi trong Lệnh nhập kho vật chứng số 697/LNK-CSĐT(MT) ngày 30-5-2023 của Công an Quận 3).
Áp dụng khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
HỘI THẨM NHÂN DÂN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA