- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị T - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Lê Thị T, Nguyễn Trí D, Trần Thị L, Lê Thị Đ, Hoàng Thị V phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. LIÊN CHIỂU - TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2023/HS-ST Ngày: 09 - 6 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU-TP ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị ThL
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bình
Ông Nguyễn Văn D
- Thư ký phiên toà: Bà Lương Thị Thanh Dung - Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lê Thị T; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 05.9.1973, tại Đà Nẵng; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Tổ Z, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Nội trợ; Con ông: Lê H1 và bà Nguyễn Thị C1; bị cáo đã ly hôn, có 02 con (sinh năm 1996 và 2006); Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Nguyễn Trí D; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 01.01.1975, tại Đà Nẵng; Nơi ĐKNKTT: số W đường E, quận C, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở: số J đường G, quận K, thành phố Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông: Nguyễn A và bà Trần Thị H2; có vợ là Hà Thị T1 và 03 con (sinh năm 2004, 2009, 2013); Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa
3. Họ và tên: Trần Thị L. Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 01.02.1956, tại Quảng Trị; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: số F đường R, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 0/12; Nghề nghiệp: Nội trợ; Con ông: Trần Ngọc K1 và bà Nguyễn Thị K2; có chồng là Lê Băng N và 05 con (sinh năm 1975, 1979, 1982, 1984, 1987); Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa
4. Họ và tên: Lê Thị Đ; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 18.8.1975, tại Đà Nẵng; Nơi ĐKNKTT: Tổ Y, phường Y1, quận K, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở: Tổ X, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông: Lê X1 và bà Nguyễn Thị H3; có chồng là Tào Văn D1 và 02 con (sinh năm 1999, 2017); Tiền án, tiền sự: Chưa;
Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa
5. Họ và tên: Hoàng Thị V; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 20.02.1969, tại Bắc Giang; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Tổ Q, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/10; Nghề nghiệp: Nội trợ; Con ông Hoàng Văn L1 và bà Trần Thị P; có chồng là Trần Văn H4 và 02 con (sinh năm 1993, 1995); Tiền án, tiền sự: Chưa;
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Bà Nguyễn Thị B - Sinh năm 1973 – Địa chỉ: số U đường R, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt
2. Bà Trần Thị Thu T2, Sinh năm 1995, Địa chỉ: Tổ M1, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt
* Người làm chứng:
1. Bà Lộc Thị M- Sinh năm 1962 - Địa chỉ: Tổ Q2, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt
2. Bà Bùi Thị S - Sinh năm 1973 - Địa chỉ: Tổ Q1, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng trưa ngày 23.11.2022, Trần Thị L, Nguyễn Trí D, Lê Thị T, Lê Thị Đ đến quán cà phê Biển Nhớ ở địa chỉ tại số U đường R, phường H, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng để uống cà phê, sau một lúc thì L, D, T, Đ rủ nhau đánh bài ăn tiền bằng hình thức bài phỏm và sử dụng bộ bài tây 52 lá mua của chủ quán là bà Nguyễn Thị B. Cách thức chơi: 04 người tham gia chơi và mỗi ván chỉ có 01 người thắng, người thua ba thì thua 60.000 đồng, người thua nhì thua 40.000 đồng, người thua ít nhất thì thua 20.000 đồng. thua một “gà” thì thua 20.000 đồng, thua “gà” cuối là 80.000 đồng, người nào “Ù” thì 03 người còn lại mỗi người thua 120.000 đồng, ai thua “K” là 80.000 đồng. Khi chơi, Trần Thị L mang theo trong người 2.280.000 đồng, dùng 5.000 đồng mua thuốc là còn 2.275.000 đồng dùng để đánh bạc, Nguyễn Trí D mang theo 2.800.000 đồng dùng để đánh bạc, Lê Thị T mang theo 4.000.000 đồng dùng để đánh bạc, Lê Thị Đ mang theo 820.000 đồng dùng để đánh bạc và cả nhóm thống nhất ai đánh thắng “Ù thường” hoặc “Ù tròn” thì bỏ 20.000 đồng vào một hộp nhựa có sẵn tại quán để trả tiền bài, tiền nước uống cho bà Nguyễn Thị B. Cả 04 người đánh bạc đến khoảng 15h00’ thì Đ có việc nên về trước, quá trình đánh bạc Đ thua 420.000 đồng, còn lại 400.000 đồng. Cùng lúc này thì Hoàng Thị V đến quán cà phê Biển Nhớ để uống cà phê và thấy nhóm của L đang đánh bạc và Đ đi về nên bỏ ra 500.000 đồng để tham gia đánh bạc cùng L, D, T. Đến khoảng 15 giờ 50 phút cùng ngày, Công an phường Hoà Minh tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện, bắt quả tang Trần Thị L, Nguyễn Trí D, Lê Thị T, Hoàng Thị V đang đánh bạc. Cả 04 người đánh bạc đến khoảng 15h00’ thì Đ có việc nên về trước. Cùng lúc này thì Hoàng Thị V đến quán cà phê Biển Nhớ để uống cà phê và thấy nhóm của L đang đánh bạc và Đ đi về nên bỏ ra 500.000 đồng để tham gia đánh bạc cùng L, D, T. Đến khoảng 15 giờ 50 phút cùng ngày, khi cả nhóm Trần Thị L, Nguyễn Trí D, Lê Thị T, Hoàng Thị V đang đánh bạc thì bị phát hiện bắt quả tang.
Tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc của Trần Thị L, Nguyễn Trí D, Lê Thị T, Hoàng Thị V là 9.995.000 đồng; Lê Thị Đ phải chịu trách nhiệm với số 9.895.000 đồng. Số tiền đánh bạc cụ thể của từng cá nhân được xác định: Lê Thị T 4.000.000 đồng, Nguyễn Trí D 2.800.000 đồng, Trần Thị L 2.275.000 đồng, Lê Thị Đ 820.000 đồng, Hoàng Thị V 500.000 đồng.
Cáo trạng số 42/CT-VKS ngày 25 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu truy tố: Trần Thị L, Nguyễn Trí D, Lê Thị T, Hoàng Thị V, Lê Thị Đ về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu thực hành quyền công tố Nhà nước giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất vụ án, nhân thân, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, tuyên bố Lê Thị T, Nguyễn Trí D, Trần Thị L, Lê Thị Đ, Hoàng Thị V phạm tội đánh bạc. Căn cứ điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65, khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự xử phạt Lê Thị T, Nguyễn Trí D, Trần Thị L, Lê Thị Đ, Hoàng Thị V từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên: Tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước số tiền đánh bạc là 10.593.000 đồng; tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây 52 lá, 01 hộp nhựa hình tròn; trả cho Nguyễn Trí D 01 xe máy nhãn hiệu Airblade gắn BKS 43F1- 058.88
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Trần Thị L, Nguyễn Trí D, Lê Thị T, Hoàng Thị V, Lê Thị Đ đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, rất ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện là hợp pháp.
Qua xem xét lời khai nhận tội của các bị cáo, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Trưa ngày 23.11.2022 tại quán cà phê Biển Nhớ ở địa chỉ số U đường R, phường H, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, Trần Thị L, Nguyễn Trí D, Lê Thị T, Lê Thị Đ, Hoàng Thị V có hành vi đánh bài phỏm thắng thua bằng tiền với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc của Trần Thị L, Nguyễn Trí D, Lê Thị T, Hoàng Thị V được xác định là 9.995.000 đồng, Lê Thị Đ phải chịu trách nhiệm về hành vi đánh bạc với số đánh bạc được xác định là 9.895.000 đồng.
Do đó, hành vi của các bị cáo Lê Thị T, Nguyễn Trí D, Trần Thị L, Lê Thị Đ, Hoàng Thị V đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự như Cáo trạng số 42/CT-VKS ngày 25 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu truy tố.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy:
Lê Thị T, Nguyễn Trí D, Trần Thị L, Lê Thị Đ, Hoàng Thị V nhận thức rất rõ việc đánh bạc bị nghiêm cấm nhưng vì xem thường pháp luật nên các bị cáo vẫn cùng nhau thực hiện hành vi. Hành vi phạm tội của các bị cáo không những xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, còn làm nảy sinh các tệ nạn xã hội do ăn thua từ việc đánh bạc nên cần phải xử phạt các bị cáo một mức án tương xứng mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo, thấy rằng:
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Cả 5 bị cáo là Lê Thị T, Nguyễn Trí D, Trần Thị L, Lê Thị Đ, Hoàng Thị V trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên ngoài số tiền bị bắt quả tang còn chủ động khai báo số tiền dự tính sử dụng đánh bạc, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do vậy các bị cáo đều được hưởng tình tiết quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Trong vụ án này, các bị cáo tự chủ động rủ nhau đánh bạc nên đều có vai trò như nhau, tuy nhiên xem xét về số tiền cụ thể đã sử dụng đánh bạc thì thấy: Bị cáo T có số tiền nhiều nhất (4.000.000đồng) do vậy phải chịu mức hình phạt cao hơn 4 bị cáo còn lại; bị cáo D có số tiền đánh bạc là 2.800.000đ và bị cáo L có số tiền đánh bạc là 2.275.000 đồng do vậy có cùng mức hình phạt và cao hơn so với bị cáo Đ (số tiền sử dụng đánh bạc là 800.000đồng) và bị cáo V (số tiền sử dụng đánh bạc là 500.000đồng).
Xét các bị cáo Lê Thị T, Nguyễn Trí D, Trần Thị L, Lê Thị Đ, Hoàng Thị V đều có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và có nơi cư trú rõ ràng nên không nhất thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho các bị cáo hưởng án treo cũng đủ răn đe, giáo dục, đồng thời thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo Lê Thị T, Nguyễn Trí D, Trần Thị L, Lê Thị Đ, Hoàng Thị V đều có thu nhập nên cần áp dụng khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự để phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Hội đồng xét xử thấy:
Đối với số tiền là tiền 10.593.000 đồng là tiền các bị cáo dùng để đánh bạc cần tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước.
Đối với 01 bộ bài tây 52 lá, 01 hộp nhựa hình tròn là công cụ liên quan đến việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với xe máy nhãn hiệu Airblade gắn BKS 43F1- 058.88 thu giữ của Nguyễn Trí D không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo, nhưng cần quy trữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision gắn BKS 98B1- 321.45 màu trắng- bạc- đen; số tiền 12.500.000 đồng của Hoàng Thị V; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu đen của Nguyễn Trí D Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu đã ban hành Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho chủ sỡ hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét
Đối với Nguyễn Thị B có hành vi để các bị cáo sử dụng quán cà phê để đánh bạc nhưng chưa đủ cấu thành tội phạm nên Công an quận Liên Chiểu đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 7.000.000 đồng về hành vi chứa chấp việc đánh bạc là có căn cứ và đúng pháp luật.
Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Lê Thị T, Nguyễn Trí D, Trần Thị L, Lê Thị Đ, Hoàng Thị V phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Lê Thị T, Nguyễn Trí D, Trần Thị L, Lê Thị Đ, Hoàng Thị V phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
2. Xử:
2.1- Căn cứ điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65, khoản 1 và khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự xử phạt Lê Thị T 01 (Một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm kể từ ngày tuyên án (ngày 09 tháng 6 năm 2023)
Phạt bổ sung Lê Thị T số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng).
2.2- Căn cứ điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65, khoản 1 và khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Trí D 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án (ngày 09 tháng 6 năm 2023)
Phạt bổ sung Nguyễn Trí D số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng).
2.3 - Căn cứ điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65, khoản 1 và khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự xử phạt Trần Thị L 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án (ngày 09 tháng 6 năm 2023)
Phạt bổ sung Trần Thị L số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng).
2.4 – Căn cứ điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65, khoản 1 và khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự xử phạt Lê Thị Đ 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án (ngày 09 tháng 6 năm 2023)
Phạt bổ sung Lê Thị Đ số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng).
2.5- Căn cứ điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65, khoản 1 và khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự xử phạt Hoàng Thị V 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án (ngày 09 tháng 6 năm 2023)
Phạt bổ sung Hoàng Thị V số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng).
Giao Lê Thị T, Trần Thị L, Lê Thị Đ, Hoàng Thị V về nơi các bị cáo đang cư trú là Uỷ ban nhân dân phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng để giám sát và giáo dục. Giao Nguyễn Trí D về nơi bị cáo đang cư trú là Ủy ban nhân dân phường P2, quận K, thành phố Đà Nẵng để giám sát và giáo dục. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án Hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Tuyên:
Tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước đối với số tiền đánh bạc là 10.593.000đ (Mười triệu, năm trăm chín mươi ba ngàn đồng). Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ bài tây 52 lá, 01 hộp nhựa hình tròn.
Trả cho Nguyễn Trí D một xe máy nhãn hiệu Airblade gắn BKS 43F1-058.88 nhưng tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.
(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 23/5/2023).
4. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc Lê Thị T, Nguyễn Trí D, Trần Thị L, Lê Thị Đ, Hoàng Thị V, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được hoặc từ ngày niêm yết (trích sao) bản án.
(Đã giải thích về án treo)
| Nơi nhận: - Các bị cáo; - Những người tham gia tố tung; - VKSND quận Liên Chiểu; - TAND, VKSND TP Đà Nẵng; - Chi cục THADS quận Liên Chiểu; - Cơ quan điều tra CA quận Liên Chiểu; - Cơ quan THAHS CA quận Liên Chiểu; - Cơ quan THAHS CA TP Đà Nẵng; - Lưu Hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA DƯƠNG THỊ THÁI |