- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số 56 ngày 31.3.2023 Cà Văn L phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 L…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Cà Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ML TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2023/HS-ST Ngày 31-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ML, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Khe ̣t và bà Trần Thi ̣ Thúy.
- Thư ký phiên toà: Ông Đào Ngo ̣c Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện ML, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ML tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện ML, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 55/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2023/ QĐXXST-HS ngày 23 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Cà Văn L, sinh ngày 10/5/1985, tại CH, ML, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản MP, xa CH, huyện ML, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao đô ̣̃
ng tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông Cà Văn H, sinh năm 1956 và con bà Lò Thi ̣ H1, sinh năm 1961; có vợ là Lò Thi ̣ N, sinh năm 1988 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa có án tích hoặc xử lý, xử phạt vi phạm hành chính khác; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/10/2023; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa: Ông Đă ̣ng Văn Q, Trợ giúp viên pháp lý, công tác tại Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nướ c tỉnh Sơn La. Có mă ̣t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 45 phút ngày 11/10/2022, tổ công tác Công an xa CH, huyệñ ML phát hiện, bắt quả tang Cà Văn L đang có hành vi cất giấu 01 gói nilon màu trắng và 01 gói nilon màu hồng, bên trong các gói đều chứ a chất bô ̣t màu trắng nghi là Heroine ta ̣i khu vực bản MP, xa CH, huyê ̣̃
n Mườ ng La.
Vật chứng thu giữ: 01 gói nilon màu trắng và 01 gói nilon màu hồng, bên trong các gói đều chứ a chất bô ̣t màu trắng nghi là Heroine.
Ngày 11/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ML và Viện kiểm sát nhân dân huyện ML tiến hành bóc mở niêm phong và cân tịnh vật chứng thu giữ. Kết quả xác định: 01 gói nilon màu hồng bên trong chứ a cu ̣c bô ̣t màu trắng có khối lượng cân tịnh là 3,43 gam, lấy 0,22 gam làm mẫu giám định ký hiê ̣u L1, còn la ̣i 3,21 gam ký hiê ̣u L1A nhâ ̣p kho vâ ̣t chứ ng; 01 gói nilon màu trắng bên trong chứ a cu ̣c bô ̣t màu trắng có khối lượng cân tịnh là 3,65 gam, lấy 0,19 gam làm mẫu giám đi ̣nh ký hiê ̣u L2, còn la ̣i 3,46 gam ký hiê ̣u L2A nhập kho vâ ̣t chứ ng.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ML ra quyết định trưng cầu giám định số 112. Tại kết luận giám định số 1628 ngày 12/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: mẫu gửi giám định ký hiệu L1, L2 là ma túy, loại Heroine, khối lượng mẫu gửi giám định L1 = 0,19 gam, L2 = 0,22 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 7,08 gam, loa ̣i Heroine. Mẫu gử i giám đi ̣nh đa sữ ̉ du ̣ng hết trong quá trinh giám đi ̣nh.
̀
Cà Văn L khai nhận: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 11/10/2022 Cà Văn L đi bô ̣ ở khu vực bản MP, xa CH, huyê ̣̃
n ML để lấy cỏ cho bò. Trên đườ ng đi L gă ̣p 01 ngườ i đàn ông dân tô ̣c Mông không biết tên, tuổi, đi ̣a chi, L đa hỏi vã
̀
̉ mua được của ngườ i đàn ông này 02 gói Heroine vớ i số tiền 2.500.000 đồng. Sau khi mua được Heroine L cất vào túi quần đang mă ̣c trên ngườ i rồi mang về nhà cất giấu vớ i mu ̣c đich để sử du ̣ng và bán kiếm lờ i. Đến khoảng 09 giờ 45
́ phút cùng ngày khi L mang số Heroine vừ a mua ra để sử du ̣ng thi bi ̣ tổ công tác
̀ Công an xa CH, huyê ̣̃
n ML phát hiê ̣n bắt quả tang.
Ngoài ra, Cà Văn L còn khai nhâ ̣n vào ngày 05/10/2022 L mua Heroine từ mô ̣t ngườ i đàn ông không biết tên, tuổi, đi ̣a chi ở xa CH, huyê ̣̃
n ML, đến ngày
̉ 07/10/2022 L bán cho Lò Văn S, sinh năm 1992, trú ta ̣i bản MP, xa CH, huyê ̣̃
n ML 01 gói Heroine vớ i số tiền là 20.000 đồng.
Đối với người đàn ông theo lời khai của Cà Văn L là người đã bán Heroine cho L vào ngày 05/10/2022 và người đàn ông dân tô ̣c Mông theo lời khai của Cà Văn L là người đã bán Heroine cho Cà Văn L vào ngày 11/10/2022, Cà Văn L không biết tên, tuổi, địa chỉ của những người này, việc trao đổi, mua bán ma túy không có ai biết hoặc chứng kiến. Ngoài lời khai của L Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện ML không thu thập được tài liệu chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để mở rộng điều tra vụ án.
Đối với Lò Văn S là người theo lờ i khai của Cà Văn L đa mua Heroinẽ của Cà Văn L vào ngày 05/10/2022: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyê ̣n ML đa tiến hã
̀nh điều tra, xác minh nhưng Lò Văn S không có mă ̣t ta ̣i đi ̣a phương. Do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyê ̣n ML đa tã ́ch hành vi của Lò Văn S để điều tra, thu thâ ̣p chứ ng cứ và xử lý khi đủ căn cứ . Do ngoài lờ i khai của Cà Văn L không thu thâ ̣p được tài liê ̣u, chứ ng cứ nào khác nên không đủ căn cứ đi ̣nh tô ̣i đối vớ i hành vi bán Heroine cho Lò Văn S của Cà Văn L.
Tại Bản cáo trạng số 27/CT-VKS-ML ngày 02/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ML truy tố bị cáo Cà Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Cà Văn L đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Cà Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt Cà Văn L từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù giam; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an huyê ̣n ML được niêm phong dán kín, (gồm có: hai túi nilon màu trắng ký hiê ̣u L1A = 3,21 gam và L2A = 3,46 gam, 01 vỏ phong bi niêm phong cũ đa bõ ́c mở , 01 mảnh nilon
̀
màu hồng, 01 mảnh nilon màu trắng gói ban đầu).
Về án phi: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
́ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án: Đề nghi ̣ buô ̣c bi ̣ cáo phải chi ̣u tiền án phí sơ thẩm theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo khẳng định bị cáo bị khởi tố, truy tố, xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Song đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng, pháp luật Nhà nước và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì bị cáo là người dân tộc sống ở vùng điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, trinh đô ̣ hiểu biết, nhâ ̣n thứ c kém, khi bi ̣ bắt bi ̣ cáo đa tự̃ nguyê ̣n giao nô ̣p
̀ ma túy cho cơ quan điều tra, sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, vì bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thu nhập không ổn định, tài sản không có giá trị lớn và đề nghị miễn án phí cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện ML; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện ML; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, ngườ i bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Cà Văn L thừa nhận: Ngày 11/10/2022 Cà Văn L đa có hành vi cẫ
́t giấu trái phép 7,08 gam Heroine vớ i mu ̣c đich sử du ̣ng và bán kiếm lờ i.
́
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, thông báo kết quả giám định vật chứng của vụ án, lời khai của ngườ i chứng kiến.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Cà Văn L đã thực hiện hành vi Mua bán trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy, được quy định tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Bi ̣ cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình làm là nguy hiểm cho xã hội và bản thân, nhưng do nghiê ̣n ma túy và hám lờ i bất chinh nên bị cáo đã thực hiện tội phạm. Hành vi cất giấu trái
́ phép Heroine để sử du ̣ng và bán kiếm lờ i của bị cáo Cà Văn L được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, tội phạm bị cáo thực hiện đã hoàn thành. Hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo là thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội ở địa phương.
Về tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ
Về tình tiết tăng nặng: Bi ̣ cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Toà cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, vì sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Về hình phạt
Về hình phạt chính: Tòa cần xem xét cân nhắc xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo. Việc cách ly bị cáo một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có thể đảm bảo được điều kiện và thời gian để bị cáo cải tạo, giáo dục trở thành người tốt có ích cho xã hội và gia đình, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa giáo dục chung.
Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 251 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo, bị cáo thu nhập không ổn định, tài sản không có gì giá trị lớn, bị cáo không có khả năng thi hành, Toà cần xem xét không áp dụng đối với bị cáo.
Đối với 02 người đàn ông bán trái phép chất ma túy cho bị cáo Cà Văn L, cơ quan chức năng không có cơ sở chứng minh, xử lý.
Đối với Lò Văn S: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyê ̣n ML đa tã ́ch hành vi của Lò Văn S để điều tra, thu thâ ̣p chứ ng cứ và xử lý khi đủ căn cứ .
Về vật chứng của vụ án:
01 phong bì công văn của Công an huyê ̣n ML được niêm phong dán kín, (gồm có: hai túi nilon màu trắng ký hiê ̣u L1A = 3,21 gam và L2A = 3,46 gam, 01 vỏ phong bi niêm phong cũ đa bõ ́c mở , 01 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh
̀ nilon màu trắng gói ban đầu). Là vâ ̣t thuô ̣c loa ̣i Nhà nướ c cấm tàng trữ, cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo và người bào chữa xin miễn nộp tiền án phí. Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015:
Tuyên bố: bị cáo Cà Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Cà Văn L 08 (Tám) năm tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ta ̣m giam (ngày 11/10/2022).
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an huyê ̣n ML được niêm phong dán kín, (gồm có: hai túi nilon màu trắng ký hiê ̣u L1A = 3,21 gam và L2A = 3,46 gam, 01 vỏ phong bi niêm phong cũ đa bõ ́c mở , 01 mảnh
̀
nilon màu hồng, 01 mảnh nilon màu trắng gói ban đầu).
(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/3/2023 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện ML và Chi cục Thi hành án dân sự huyện ML).
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án: Miễn nộp tiền án phí hinh sự sơ thẩm cho bị cáo Cà Văn L.
̀
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 31/3/2023.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện ML (2); - Công an huyện ML; - Bị cáo; - Ngườ i bào chữa; - Trại giam CA tỉnh Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Chi cục THADS huyện ML; - THA hình sự; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) Lê Thị Thu Hà |