vanban.org

Bản án 56/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 23/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Trịnh Văn Q 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo, ngày 21/3/2023.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ký hiệu “QT” (đóng dấu của Công an thị trấn Kép và Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang bên trong có 0,303 gam ma túy Heroine hoàn lại sau giám định), 01 xi lanh bằng nhựa chưa qua sử dụng và 01 ống nước cất chưa qua sử dụng. (Đặc điểm vật… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Trịnh Văn Q 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo, ngày 21/3/2023.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠNG GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2023/HS-ST
Ngày 23 tháng 6 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thân Hồng Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thanh và ông Đoàn Văn Cương.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương – Thư ký Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên toà: Bà Đồng Thị Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2023, tại điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam - Công an tỉnh Bắc Giang, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử phiên tòa trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Trịnh Văn Q, sinh năm 1995; Tên gọi khác: không có; Giới tính: Nam. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Trịnh Văn H, sinh năm 1972 (đã chết) và con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1974; Bị cáo có vợ là Trần Thị M, sinh năm 1999 và 01 con sinh năm 2021.

Nhân thân, tiền sự: Không có;

Tiền án: Bản án số 47/2022/HS-ST ngày 14/6/2022 của TAND huyện Lạng Giang xử phạt Trịnh Văn Q 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 09/11/2022;

Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ, tạm giam từ 21/3/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Bắc Giang (có mặt).

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Xuân Tr, sinh năm 1984 (vắng mặt)

Địa chỉ: TDP3, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Người chứng kiến: Anh Dương Thành Ch, sinh năm 1983 (vắng mặt)

Địa chỉ: TDP3, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 08 giờ 40 phút ngày 21/3/2023, tại khu vực bãi rác thải thuộc Tổ

dân phố số 3, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Tổ công tác của Công an thị trấn K, huyện L bắt quả tang Trịnh Văn Q, sinh năm 1995 ở thôn N, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ (BL: 22-25), gồm:

- 01 (một) túi nilon màu trắng có in nhiều chữ và số (dạng túi đựng xi lanh) bên trong túi có chứa 11 (mười một) đoạn ống nhựa màu trắng có kẻ sọc màu đỏ và 01 (một) đoạn ống nhựa màu đỏ có kẻ sọc màu trắng, bên trong mỗi đoạn ống nhựa đều có chứa chất cục bột nghi là chất ma túy Heroin, các đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu. Thu giữ trên nền đất trước mặt tại vị trí Q ngồi được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT”.

- 01 (một) xi lanh nhựa chưa qua sử dụng, 01 (một) ống nước cất chưa sử dụng thu giữ thu giữ tại túi áo khoác phía bên phải (túi phía trước bên mặt ngoài áo khoác).

Sau khi tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, Công an thị trấn K đã bàn giao đối tượng và vật chứng thu giữ được cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Lạng Giang để giải quyết theo thẩm quyền.

Cùng ngày 21/3/2023, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trịnh Văn Q nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì.

Tại Cơ quan điều tra, Trịnh Văn Q khai nhận: Bản thân Q bị nghiện ma tuý. Khoảng 07 giờ ngày 21/3/2023, Q đi nhờ xe mô tô của một người không quen biết lên thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến ngã tư, thị trấn K, Q xuống xe, đi bộ một mình đến tổ dân phố D, thị trấn K, huyện L thì gặp 01 người đàn ông không quen biết và đặt vấn đề mua ma tuý của người đàn ông này. Sau đó, Q đưa cho người đàn ông số tiền 1.200.000 đồng, thì được người này đưa cho 01 (một) túi nilon bên trong có 12 (mười hai) đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu gồm 11 (mười một) đoạn màu trắng có kẻ sọc màu đỏ và 01 (một) đoạn màu đỏ có kẻ sọc màu trắng, bên trong mỗi đoạn ống nhựa đều chứa ma túy heroine. Mua được ma tuý, Q cầm số ma túy này đi bộ đến khu vực bãi rác thuộc Tổ dân phố số 3, thị trấn K, huyện L để tìm chỗ sử dụng. Tại đây, Q đã bỏ tất cả số ma túy vừa mua ra nền đất ngay trước mặt chỗ Q ngồi định sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng như đã nêu trên.

Tại Kết luận giám định số 495/KL-KTHS ngày 23/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: Chất cục bột màu trắng đựng trong 12 (mười hai) đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu (trong đó có 11 (mười một) đoạn màu trắng có kẻ sọc màu đỏ và 01 (một) đoạn màu đỏ có kẻ sọc màu trắng), được đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, trên túi có nhiều chữ và số (loại túi đựng xi lanh) đều là ma túy, có tổng khối lượng 0, 303 gam, loại Heroine (BL 35).

Tại cơ quan điều tra, bị cáo Trịnh Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại Bản cáo trạng số 55/CT-VKS ngày 24/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Trịnh Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, bị cáo không bị oan.

Những người chứng kiến, làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng các tài liệu có trong hồ sơ đã khai rõ diễn biến họ đã chứng kiến khi cơ quan điều tra bắt quả tang bị cáo Trịnh Văn Q có hành vi cất giữ trái phép ma túy trong người.

Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trịnh Văn Q từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 21/3/2023, đề nghị miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện còn đề nghị xử lý tiêu hủy toàn bộ số vật chứng, buộc bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, sau phần xét hỏi và tranh luận, bị cáo nhất trí với lời khai của người chứng kiến và không có ý kiến gì tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện La ̣ng Giang. Bị cáo nhận thức hành vi của mình đã thực hiện là sai trái, là vi phạm pháp luật. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo được sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

.Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên: Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng xác định đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội, tội danh và khung hình phạt áp dụng: Trước cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, nó phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 21/3/2023, phù hợp với các tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm, cũng như kết luận giám định, đã thể hiện:

Hồi 08 giờ 40 phút ngày 21/3/2023, tại khu vực bãi rác thải thuộc Tổ dân phố số 3, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Trịnh Văn Q có hành vi cất giữ trái phép 0,303 gam ma tuý, loại Heroin nhằm mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác của Công an thị trấn K, huyện L phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

“Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

“c, Heroine, Cocaine, Methamphetamine, …có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Trịnh Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất của vụ án thấy: Vụ án này có 01 bị cáo phạm tội với cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của nhà nước. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của địa phương và sức khỏe của con người, gây ảnh hưởng không tốt đến trật tự gia đình và xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh một số tội phạm nguy hiểm khác, là con đường lây lan của một số căn bệnh xã hội. Đối với các tội phạm về ma túy, Nhà nước ta đã và đang có các chế tài rất nghiêm khắc được quy định trong luật để xử lý loại tội phạm này, nhưng các tội phạm về ma túy vẫn diễn biến phức tạp, khó lường. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử lý nghiêm tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân và tiền sự: Không có.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Q đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo Q đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Mặt khác thấy, bị cáo mua ma túy mục đích để sử dụng; số lượng ma túy bị cáo tàng trữ không lớn (0,303 gam Hêroin). Do vậy, cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt. Hội đồng xét xử thấy cần phạt bị cáo với mức án thấp mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã đề nghị đối với Hội đồng xét xử tại phiên tòa là phù hợp và có căn cứ.

Về việc tiếp tục tạm giam bị cáo: Hiện nay, bị cáo đang bị tạm giam, để đảm bảo cho việc thi hành án, Hội đồng xét xử thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày là phù hợp với Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về hình phạt bổ sung đối với bị cáo: Đối với tội phạm do bị cáo thực hiện, lẽ ra cần phạt bổ sung bằng tiền. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm, thu nhập và địa phương cung cấp không có tài sản sống phụ thuộc vào gia đình (bút lục số 42). Hơn nữa, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không có mục đích thu lời bất hợp pháp, nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.

Đối với người đàn ông mà Q mua ma túy:

Trong vụ án này, Q khai mua ma tuý của một người đàn ông không quen biết, không nhớ đặc điểm nhận dạng. Ngoài lời khai của Q không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để điều tra làm rõ và xử lý đối với người đàn ông này là đúng quy định.

Về vật chứng:

Vật chứng chuyển theo hồ sơ vụ án để giải quyết gồm: 01 phong bì ký hiệu “QT” đóng dấu của Công an thị trấn K và Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang bên trong 0,303 gam ma túy Heroine hoàn lại sau giám định, 01 xi lanh bằng nhựa chưa qua sử dụng và 01 ống nước cất chưa qua sử dụng, HĐXX thấy:

- Đối với 01 phong bì ký hiệu “QT” đóng dấu của Công an thị trấn K và Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang bên trong có 0,303 gam ma túy Heroine hoàn lại sau giám định; Ma túy là chất Nhà nước cấm tàng trữ , lưu hành còn các thứ khác là công cụ phương tiện bị cáo dùng để sử dụng trái phép ma túy, nên đều bị tịch thu tiêu hủy;

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; các Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 293, Điều 329, Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xử phạt: Bị cáo Trịnh Văn Q 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo, ngày 21/3/2023. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ký hiệu “QT” (đóng dấu của Công an thị trấn Kép và Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang bên trong có 0,303 gam ma túy Heroine hoàn lại sau giám định), 01 xi lanh bằng nhựa chưa qua sử dụng và 01 ống nước cất chưa qua sử dụng.

(Đặc điểm vật chứng của vụ án theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang).

3. Về án phí: Bị cáo Trịnh Văn Q phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo có mặt biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ