vanban.org

Bản án 56/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 21/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Hải Đ phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Hải Đ số tiền 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng) đề nộp ngân sách Nhà nước. Không áp dụng hình phạt bổ sung. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo Hoàng Hải Đ đã bồi thường xong toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại cháu Vi Phúc H1 tổng số tiền 150.000.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. - Bị truy tố tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi,…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Hải Đ phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2023/HS-ST
Ngày: 21-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hương Giang.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nông Ngọc Dung;

Bà Vi Hồng Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngọc Bích Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện C, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2023/HS-ST ngày 31 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Hoàng Hải Đ, sinh ngày 30 tháng 9 năm 1993, tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu T, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Viên chức; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Hồng H và bà Nông Thị N; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa bị xử lý vi phạm hành chính; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17 tháng 5 năm 2023 đến nay; bị cáo có mặt.

Bị hại:

1. Cháu Vi Phúc H1, sinh năm 2007; địa chỉ: Thôn S, xã M, huyện C, tỉnh Lạng Sơn (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của cháu Vi Phúc H1: Ông Vi Văn T, sinh năm 1977 và bà Vi Thị T1, sinh năm 1977; cùng địa chỉ: Thôn S, xã M, huyện C, tỉnh Lạng Sơn (là bố, mẹ của cháu Vi Phúc H1).

- Người đại diện theo ủy quyền của bà Vi Thị T1: Ông Vi Văn T, giấy ủy quyền ngày 31 tháng 5 năm 2023; vắng mặt.

2. Cháu Vi Văn T2, sinh năm 2006; địa chỉ: Thôn S, xã M, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

Người đại diện hợp pháp của cháu T2: Ông Vi Văn T3, sinh năm 1978 và bà Vi Thị T4, sinh năm 1979; cùng địa chỉ: Thôn S, xã M, huyện C, tỉnh Lạng Sơn (là bố, mẹ của cháu Vi Văn T2); có mặt.

Đại diện Trung tâm G thường xuyên huyện C, tỉnh Lạng Sơn:

1. Bà Nông Thị T5, sinh năm 1976; địa chỉ: Khu T, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn (là giáo viên chủ nhiệm của cháu Vi Phúc H1); vắng mặt.

2. Bà Linh Thị N1, sinh năm 1976; địa chỉ: Khu T, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn (là giáo viên chủ nhiệm của cháu Vi Văn T2); có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Vi Thị Diệu L, sinh năm 2000; địa chỉ: Thôn X, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

Người làm chứng:

1. Chị Phạm Thúy N2, sinh năm 1995; vắng mặt.

2. Anh Hoàng Văn C, sinh năm 1991; có mặt.

3. Anh Cao Văn H2, sinh năm 1985; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 14 tháng 4 năm 2023, bị cáo Hoàng Hải Đ điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 20A- 120.39, trên xe chở anh Hoàng Văn C, chị Phạm Thúy N2 và anh Cao Văn Hợp lưu t trên đường Q để đi đến nhà anh Hoàng Văn C thuộc khu L, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Khoảng 11 giờ 45 phút cùng ngày bị cáo Hoàng Hải Đ khi đi đến K + 500 quốc lộ A thuộc khu L, thị trấn Đ, huyện C di chuyển theo hướng Lạng Sơn - Hà Nội, khi bật xi nhan chuyển hướng rẽ trái để đi khu vào Làng T, trong khi chuyển hướng đã xảy ra va chạm với xe gắn máy biển kiểm soát 12XA - 010.88 do cháu Vi Phúc H1 điều khiển chở cháu Vi Văn T2 đi ngược chiều theo hướng Hà Nội - Lạng Sơn. Hậu quả: Đến ngày 26 tháng 4 năm 2023 cháu Vi Phúc H1 tử vong, cháu Vi Văn T2 bị thương tích tại thời điểm giám định là 24% và 02 phương tiện bị hư hỏng.

Tại biên bản kiểm tra nồng độ cồn đối với bị cáo Hoàng Hải Đ cho kết quả: Trong khí thở của Hoàng Hải Đ không có nồng độ cồn (0.000mg/L).

Tại phiếu xét nghiệm nước tiểu số phiếu 27, MS: 35/BV 01 ngày 14 tháng 4 năm 2023 của Trung tâm y tế huyện C xét nghiệm đối với bị cáo Hoàng Hải Đ cho kết quả âm tính với các chất ma túy.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số: 517/KLGĐTT-PC09 ngày 28 tháng 4 năm 2023 của Phòng K, Công an tỉnh L kết luận: Nguyên nhân chết của cháu Vi Phúc H1 là đa chấn thương trên nạn nhân được điều trị không hồi phục.

Tại bản Kết luận giám định kỹ thuật số: 39/GĐKT-ĐK ngày 28 tháng 4 năm 2023 của Công ty cổ phần đăng kiểm xe cơ giới tỉnh L kết luận: Đối với xe ô tô biển kiểm soát 20A-120.39 khi xảy ra tai nạn, các hệ thống an toàn của xe đầy đủ, hoạt động bình thường và đảm bảo an toàn kỹ thuật; đối với xe gắn máy biển kiểm soát 12XA-010.XX thì hệ thống đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu, còi điện do xe hư hỏng không đủ cơ sở để kết luận và các hệ thống an toàn khác của xe đầy đủ, hoạt động bình thường và đảm bảo an toàn kỹ thuật.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 13/KL-HĐĐGTS ngày 10 ngày 5 năm 2023 của Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: 01 (một) xe ô tô biển kiểm soát 20A-120.39, nhãn hiệu HUYNDAI, số loại GRAND I10, màu sơn trắng, xe đã bị hư hỏng do tai nạn giao thông, tại thời điểm định giá có trị giá thiệt hại là 29.000.000 đồng (hai mươi chín triệu đồng); 01 (một) xe gắn máy biển kiểm soát 12XA-010.XX, nhãn hiệu VIET THAI, số loại VTSIRUS50, màu sơn xanh trắng, tại thời điểm định giá có giá trị thiệt hại là 3.734.000 đồng (ba triệu bảy trăm ba mươi tư nghìn đồng). Tổng cộng giá trị thiệt hại là 32.734.000 đồng (ba mươi hai triệu bảy trăm ba mươi tư nghìn đồng).

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 145/KLTTCT-TTPY ngày 08 tháng 6 năm 2023 của Trung tâm pháp y, Sở y tế tỉnh L kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của Vi Văn T2 là: Sẹo vết mổ mặt ngoài đùi phải: 03%; Sẹo vết dẫn lưu vùng đùi phải: 01%; Gẫy 1/3 giữa xương đùi phải: 21%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 24% (hai mươi tư phần trăm).

Căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trường, sơ đồ, bản ảnh hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, lời khai của bị cáo và các chứng cứ khác thu thập được, xác định: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn được mô tả theo hướng Hà Nội - Lạng Sơn, là đoạn đường thẳng, tầm nhìn không bị hạn chế, mặt đường rộng 10,25m được rải bê tông nhựa, giữa đường có vạch kẻ sơn màu vàng đứt quãng phân chia phần đường dành cho xe cơ giới. Hai bên lề đường có kẻ vạch sơn liền màu trắng phân chia phần đường dành cho xe gắn máy, xe thô sơ và người đi bộ với phần đường dành cho xe cơ giới. Phía trước hiện trường vụ tai nạn giao thông theo hướng Hà Nội - Lạng Sơn, bên phải đường có biển báo hiệu số W.207b “Để báo trước sắp đến nơi giao nhau với đường không ưu tiên (đường nhánh) bên phải”, từ chân cột biển báo về hướng Lạng Sơn 76m là tâm đường rẽ vào Khu L, thị trấn Đ. Theo hướng Lạng Sơn - Hà Nội ở bên phải mép đường có biển báo số W.207c “Để báo trước sắp đến nơi giao nhau với đường không ưu tiên (đường nhánh) bên trái”, từ chân cột biển báo W.207c về hướng Hà Nội 37m là cột mốc Km 53 + 500 quốc lộ A. Hướng Khu L, thị trấn Đ - Quốc lộ A ở bên phải đường có biển báo số W.208 "Để báo trước sắp đến nơi giao nhau với đường ưu tiên". Vị trí xảy ra va chạm nằm trên phần đường xe gắn máy, thô sơ và người đi bộ bên trái theo hướng Lạng Sơn - Hà Nội và nằm trong vùng biển báo có hiệu lực.

Đối với xe ô tô biển kiểm soát 20A-120.39, qua xác minh người đứng tên đăng ký sở hữu là anh Lê Quang Đ1 (sinh năm 1987, trú tại: Xóm A, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên). Khoảng tháng 12 năm 2022 anh Lê Quang Đ1 đã bán chiếc xe ô tô trên cho anh Vy Long H3 (sinh năm 1984, trú tại: Khu N, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn), đến ngày 04 tháng 01 năm 2023 anh Vy Long H3 đã bán lại chiếc xe ô tô trên cho bị cáo Hoàng Hải Đ. Xác định xe ô tô biển kiểm soát 20A-120.39 là của bị cáo Hoàng Hải Đ, ngày 15/8/2023 đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C trả lại cùng giấy tờ xe có liên quan.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Hoàng Hải Đ đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại cháu Vi Phúc H1 số tiền 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng), cháu Vi Văn T2 tổng số tiền 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng). Đại diện gia đình cháu Vi Phúc H1, cháu Vi Văn T2 đã nhận đủ số tiền bồi thường, không yêu cầu bồi thường gì thêm và đều có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đối với xe của bị cáo Hoàng Hải Đ điều khiển, bị cáo cam kết tự sửa chữa, khắc phục hậu quả và không yêu cầu các bên liên quan trong vụ tai nạn phải bồi thường thiệt hại.

Về vật chứng thu giữ chưa xử lý gồm: 01 (một) giấy phép lái xe hạng B2 số 200223003383 mang tên Hoàng Hải Đ, có giá trị đến ngày 30 tháng 6 năm 2032.

Cáo trạng số: 56/CT-VKSCL ngày 30 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện C, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Hoàng Hải Đ về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Hải Đ khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như đã khai tại Cơ quan điều tra. Bị cáo xác định khi điều khiển xe ô tô chuyển hướng xe không đảm bảo an toàn, hậu quả dẫn đến cháu Vi Phúc H1 tử vong, cháu Vi Văn T2 bị thương tích tỷ lệ 24% (hai mươi tư phần trăm) và thiệt hại về tài sản là 3.734.000 đồng (ba triệu bảy trăm ba mươi tư nghìn đồng).

Ông Vi Văn T là đại diện hợp pháp của cháu Vi Phúc H1 và là người đại diện theo ủy quyền của bà Vi Thị T1 vắng mặt nhưng lời khai tại Cơ quan điều tra thể hiện: Cháu Vi Phúc H1 là con trai ruột của ông Vi Văn T và bà Vi Thị T1, xe gắn máy biển kiểm soát 12XA-010.XX là xe của chị Vi Thị Diệu L (con gái ông) đứng tên đăng ký chủ sở hữu, sau khi chị Vi Thị Diệu L đi lấy chồng thì để lại xe cho ông bà quản lý, việc cháu Vi Phúc H1 lấy xe gắn máy biển kiểm soát 12XA-010.XX khi tham gia giao thông gia đình không biết, khi tham gia giao thông gây tai nạn hậu quả xảy ra va chạm với xe ô tô do bị cáo Hoàng Hải Đ điều khiển dẫn đến tử vong. Sau khi xảy ra vụ việc, gia đình và bị cáo đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình nên gia đình không có ý kiến gì, đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngày 15/8/2023 đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C trả lại cùng giấy tờ xe có liên quan cho ông, ông không có yêu cầu đề nghị gì

Cháu Vi Văn T2 là bị hại trình bày: Ngày 14 tháng 4 năm 2023, cháu và bạn là Vi Phúc H1 trên đường đi học về tham gia giao thông bằng xe gắn máy do bạn Vi Phúc H1 điều khiển xe đã xảy ra va chạm với ô tô do bị cáo Hoàng Hải Đ điều khiển. Hậu quả là hai cháu bị thương được đưa đi viện cấp cứu, đến ngày 26 tháng 4 năm 2023 thì bạn Vi Phúc H1 tử vong; cháu bị gãy xương. Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho cháu số tiền 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng), việc bồi thường sẽ do gia đình cháu và bị cáo tự thỏa thuận cháu không yêu cầu bồi thường gì thêm trong vụ án này và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ông Vi Văn T3 và bà Vi Thị T4 là người đại diện hợp pháp của cháu Vi Văn T2 trình bày: Ông bà là cha mẹ của cháu Vi Văn T2, về nội dung vụ án giống như bị cáo trình bày là đúng, bị cáo đã bồi thường gia đình cho tổng số tiền 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng), gia đình và bị cáo sẽ tự thỏa thuận với nhau về vấn đề bồi thường sau này, gia đình không yêu cầu bồi thường gì thêm trong vụ án này và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bà Nông Thị T5 - Đại diện Trung tâm G thường xuyên huyện C, tỉnh Lạng Sơn vắng mặt nhưng lời khai tại Cơ quan điều tra thể hiện: Bà là giáo viên chủ nhiệm của cháu Vi Phúc H1, ngày 14 tháng 4 năm 2023, học sinh Vi Phúc H1 tham gia đầy đủ các tiết học trên lớp. Học sinh Vi Phúc H1 đi học bằng phương tiện gì thì không rõ. Liên quan đến tai nạn giao thông thì bà không có yêu cầu đề nghị gì và để cho người nhà học sinh Vi Phúc H1 tự quyết định.

Bà Linh Thị N1 - Đại diện Trung tâm G thường xuyên huyện C, tỉnh Lạng Sơn trình bày: Bà là giáo viên chủ nhiệm của cháu Vi Văn T2, ngày xảy ra tai nạn cháu Vi Văn T2 tham gia đầy đủ các tiết học trên lớp. Là giáo viên chủ nhiệm lớp tuy nhiên không thể nắm được phương tiện di chuyển sử dụng để đi tới trường của học sinh là phương tiện gì. Từ hậu quả của vụ án này, bà sẽ tham mưu lại với nhà trường để tuyên truyền tích cực, hiệu quả hơn về vấn đề tham gia giao thông đối với học sinh.

Chị Vi Thị Diệu L - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng lời khai tại Cơ quan điều tra thể hiện: Chị là chị gái ruột của cháu Vi Phúc H1, chiếc xe gắn máy biển kiểm soát 12XA-010.XX do chị đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Sau khi lấy chồng thì để lại xe cho bố mẹ chị là ông Vi Văn T và bà Vi Thị T1 quản lý và sử dụng. Ngày 14 tháng 4 năm 2023, Vi Phúc Huỳnh lấy xe gắn máy để sử dụng chị không biết. Chị đã giao lại quyền quản lý sử dụng cho bố mẹ chị nên chị không có ý kiến gì đối với chiếc xe gắn máy biển kiểm soát 12XA-010.XX.

Người làm chứng chị Phạm Thị N3, anh Cao Văn H2 vắng mặt nhưng lời khai tại Cơ quan điều tra thể hiện: Anh chị là người ngồi trên xe ô tô biển kiểm soát 20A-120.39 do bị cáo Hoàng Hải Đ điều khiển. Nội dung sự việc như lời trình bày của bị cáo Hoàng Hải Đ là đúng. Hậu quả cháu Vi Phúc H1 và cháu Vi Văn T2 bị thương đưa đi cấp cứu bệnh viện.

Người làm chứng anh Hoàng Văn C trình bày: Anh là người ngồi vị trí ghế phụ trên xe ô tô biển kiểm soát 20A-120.39 do bị cáo Hoàng Hải Đ điều khiển. Sự việc xảy ra tai nạn ngày 14 tháng 4 năm 2023 giống như lời trình bày của bị cáo Hoàng Hải Đ. Sau khi xảy ra tai nạn, anh và bị cáo cùng người quen có sơ cứu và đưa cháu Vi Phúc H1, cháu Vi Văn T2 đến bệnh viện cấp cứu.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên Bản cáo trạng truy tố. Sau khi đánh giá về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra; đánh giá về nguyên nhân xảy ra tai nạn, về lỗi của hai bên; đánh giá về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Hải Đ phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

- Hình phạt chính: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các Điều 35; 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Hoàng Hải Đ từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng nộp vào ngân sách Nhà nước.

- Hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.

- Về xử lý vật chứng, áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo Hoàng Hải Đ 01 (một) giấy phép lái xe hạng B2 số 200223003383 mang tên Hoàng Hải Đ, có giá trị đến ngày 30 tháng 6 năm 2032.

- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc bị cáo Hoàng Hải Đ đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường xong thiệt hại khắc phục hậu quả cho gia đình các bị hại cháu Vi Phúc H1 tổng số tiền 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng), bị hại cháu Vi Văn T2 tổng số tiền 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng).

Bị cáo, bị hại Vi Văn T2, người đại diện hợp pháp của bị hại Vi Văn T2 không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều hợp pháp

Về thủ tục tố tụng: Người đại diện hợp pháp của cháu Vi Phúc H1 là ông Vi Văn T, bà Vi Thị T1 vắng mặt; Đại diện trung tâm G thường xuyên huyện C, tỉnh Lạng Sơn là bà Nông Thị T5; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Vi Thị Diệu L; người làm chứng là chị Phạm Thúy N2, anh Cao Văn H2 đều vắng mặt có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt này không ảnh hưởng gì đến kết quả xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị theo quy định các Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về hành vi phạm tội: Bị cáo Hoàng Hải Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai tại Cơ quan điều tra, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường; biên bản khám nghiệm phương tiện; các bản kết luận giám định định giá tài sản, vật chứng đã thu giữ và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 14 tháng 4 năm 2023, bị cáo Hoàng Hải Đ điều khiển xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI, số loại GRAND I10, màu sơn trắng biển kiểm soát 20A - 120.39 theo hướng Lạng Sơn - Hà Nội, khi đi đến Km 53 + 500 Quốc lộ A thuộc khu L, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo chuyển hướng xe từ bên phải sang đến phần đường dành cho xe gắn máy, xe thô sơ và người đi bộ ở bên trái đường do không đảm bảo an toàn đã gây ra tai nạn với xe gắn máy biển kiểm soát 12XA-010.XX do cháu Vi Phúc H1 điều khiển chở cháu Vi Văn T2 đi ngược chiều. Hậu quả cháu Vi Phúc H1 tử vong; cháu Vi Văn T2 bị thương tích tỷ lệ 24% (hai mươi tư phần trăm), xe gắn máy biển kiểm soát 12XA-010.XX thiệt hại 3.734.000 đồng (ba triệu bảy trăm ba mươi tư nghìn đồng).

Hành vi nêu trên của bị cáo Hoàng Hải Đ đã xâm phạm an toàn giao thông được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến an toàn công cộng, trật tự công cộng tại địa phương. Bị cáo là người đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tham gia giao thông là phải tuân thủ Luật Giao thông đường bộ nhưng bị cáo đã chuyển hướng xe không đảm bảo an toàn gây tai nạn vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ, hậu quả dẫn đến chết một người, một người bị thương, gây thiệt hại về tài sản 3.734.000 đồng (ba triệu bảy trăm ba mươi tư nghìn đồng). Do đó cần xử lý nghiêm minh để răn đe và phòng ngừa chung.

[5] Từ những nhận định tại đoạn [3], [4] của Bản án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Hoàng Hải Đ Vi phạm quy định khi tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Như vậy Bản cáo trạng số 56/CT-VKSCL ngày 30 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Hoàng Hải Đ theo tội danh và điều khoản trong Bộ luật Hình sự như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Nguyên nhân xảy ra vi phạm giao thông và lỗi: Bị cáo Hoàng Hải Đ điều khiển xe ô tô khi chuyển hướng xe đã thiếu chú ý quan sát dẫn đến chuyển hướng xe không đảm bảo an toàn. Xác định lỗi trong vụ tai nạn là lỗi hỗn hợp, trong đó: Bị cáo Hoàng Hải Đ chuyển hướng xe không đảm bảo an toàn, vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ; bị hại cháu Vi Phúc H1 điều khiển xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ khi chưa đủ tuổi, không chấp hành biển báo hiệu đường bộ, không giảm tốc độ có thể dừng lại một cách an toàn khi có biển cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường, vi phạm khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 11, điểm a khoản 1 Điều 60 Luật Giao thông đường bộ; khoản 1 Điều 5 Thông tư liên tịch số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29 tháng 8 năm 2019. Do đó, trong vụ án này bị cáo và bị hại cùng có lỗi, đều không chấp hành Luật giao thông.

Khi quyết định hình phạt ngoài việc đánh giá tính chất, mức độ, hình phạt của hành vi phạm tội đã nêu, Hội đồng xét xử còn xem xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về nhân thân: bị cáo là người có nhân thân tốt, người chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện khắc phục, bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình các bị hại; gia đình các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và về việc xảy ra tai nạn có lỗi của người bị hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Hoàng Hải Đ nhân thân tốt; phạm tội lần đầu; có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại các khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; không có tiền án, tiền sự; trước khi phạm tội chấp hành tốt chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước tại địa phương. Hiện bị cáo có kinh tế ổn định, bị cáo làm viên chức tại Trung tâm Phát triển Qũy đất huyện C nên có khả năng nộp phạt tiền theo quy định; do đó, áp dụng hình phạt chính bằng tiền đối với bị cáo là phù hợp theo quy định pháp luật phù hợp với khung hình phạt bị cáo bị truy tố, xét xử và thể hiện tính khoan hồng của pháp luật. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Hoàng Hải Đ không đảm nhiệm chức vụ, nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Đối với bị hại Vi Phúc H1, tính đến thời điểm xảy ra tai nạn được 15 tuổi 7 tháng 21 ngày, chưa đủ tuổi để điều khiển xe gắn máy biển kiểm soát: 12XA-010.XX tham gia giao thông vi phạm Luật Giao thông đường bộ như đã nêu tại đoạn [6] của bản án, hậu quả làm cháu Vi Văn T2 bị thương tích với tỷ lệ 24%, xe ô tô biển kiểm soát: 20A-120.39 thiệt hại giá trị 29.000.000đ (hai mươi chín triệu đồng). Tuy nhiên bị hại cháu Vi Phúc H1 đã tử vong nên không xem xét xử lý.

Đối với ông Vi Văn T và bà Vi Thị T1 ngày xảy ra tai nạn không biết cháu Vi Phúc H1 đã tự ý lấy xe gắn máy biển kiểm soát: 12XA - 010.88 điều khiển tham gia giao thông nên không xem xét xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Hoàng Hải Đ đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại cháu Vi Phúc H1 tổng số tiền 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng); bồi thường cho gia đình cháu Vi Văn T2 số tiền 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng). Xét thấy, việc bồi thường này do các bên tự nguyện thỏa thuận, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này. Ngoài ra, không ai còn yêu cầu gì khác về phần dân sự nên không xem xét giải quyết.

Đối với xe gắn máy biển kiểm soát 12XA - 010.88 đứng tên đăng ký chủ sở hữu của chị Vi Thị Diệu L, đây là tài sản chị V Diệu L để lại cho bố, mẹ đẻ là ông Vi Văn T và bà Vi Thị T1 quản lý sử dụng nên chị không có ý kiến gì và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho ông Vi Văn T 01 (một) xe gắn máy biển kiểm soát 12XA-010.XX và giấy tờ có liên quan là có căn cứ.

Đối với xe ô tô biển kiểm soát 20A-120.39, bị cáo Hoàng Hải Đ là chủ sở hữu hợp pháp nên Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho Hoàng Hải Đ 01 (một) xe ô tô biển kiểm soát 20A-120.39 cùng giấy tờ xe có liên quan. Bị cáo cam kết tự sửa chữa, khắc phục hậu quả và không yêu cầu các bên liên quan trong vụ tai nạn phải bồi thường thiệt hại, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Xét thấy bị cáo không phải chịu hình phạt bổ sung do đó cần trả lại cho bị cáo Hoàng Hải Đ 01 (một) giấy phép lái xe hạng B2 số 200223003383 mang tên Hoàng Hải Đ, có giá trị đến ngày 30 tháng 6 năm 2032.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị về tội danh, hình phạt đối với bị cáo Hoàng Hải Đ và về xử lý vật chứng là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Do trước khi mở phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về kiến nghị biện pháp phòng ngừa xảy ra tai nạn giao thông: Xét thấy nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông là do việc tuyên truyền pháp luật về an toàn giao thông tại các cơ sở giáo dục đối với học sinh và thanh thiếu niên đã thực hiện nhưng chưa thiết thực hiệu quả, đặc biệt là việc tuyên truyền về độ tuổi, điều kiện điều khiển các phương tiện tham gia giao thông. Ngoài ra việc trông giữ xe của nhà trường không sát sao, không kịp thời nhắc nhở các cháu về việc không đủ tuổi điều khiển phương tiện giao thông sẽ không đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông, do đó Hội đồng xét xử kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân huyện thực hiện việc kiến nghị các cơ quan chức năng phối hợp để tăng cường phổ biến pháp luật về an toàn giao thông tại các trường học trên địa bàn huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 35, 50 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 1 Điều 292; khoản 2 Điều 136; các Điều 260, 264, 293, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ điểm a, f khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Hải Đ phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Hải Đ số tiền 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng) đề nộp ngân sách Nhà nước. Không áp dụng hình phạt bổ sung.

3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo Hoàng Hải Đ đã bồi thường xong toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại cháu Vi Phúc H1 tổng số tiền 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng). Bồi thường xong cho gia đình cháu Vi Văn T2 tổng số tiền 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng).

4. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Hoàng Hải Đ 01 (một) Giấy phép lái xe hạng B2, số 200223003383 mang tên Hoàng Hải Đ, có giá trị đến ngày 30 tháng 6 năm 2032.

(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Lạng Sơn theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Lạng Sơn ngày 30 tháng 8 năm 2023).

5. Về án phí: Bị cáo Hoàng Hải Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ