vanban.org

Bản án 56/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Cao Bằng Tuyên án 18/12/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/12/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Hoàng Văn Đ, Nguyễn Văn H, Nông Văn Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn Đ và đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Hoàng Văn Đ, Nguyễn Văn H, Nông Văn Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2023/HS-PT
Ngày 18-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Khánh.

Các Thẩm phán: Ông: Hoàng Văn Thụ

Bà: Doanh Thị Mây.

- Thư ký phiên toà: Bà Bế Thị Hoa, Thẩm tra viên Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Bà Nông Thị Quỳnh Trang, Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 51/2023/TLPT-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo Hoàng Văn Đ; Nguyễn Văn H; Nông Văn Q do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 21/2023/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Hoàng Văn Đ (tên gọi khác: Không); Sinh ngày 07 tháng 01 năm 1972 tại huyện H, tỉnh Cao Bằng;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm N, xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Hoàng Văn P và bà Hoàng Thị S; có vợ là Nông Thị D và 02 (hai) con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2006;

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2000 bị Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 10 năm tù về tội giết người, ngày 11/02/2020 bị Công an huyện H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 26/4/2023 đến ngày 04/5/2023, từ ngày 05/5/2023 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có mặt.

2. Nguyễn Văn H (tên gọi khác: Không); sinh ngày 13 tháng 02 năm 1985 tại huyện N, tỉnh Nam Định;

Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định;

Nơi tạm trú và nơi ở hiện nay: Tổ X, thị trấn X, huyện H, tỉnh Cao Bằng;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Nguyễn Văn H1 và bà Trịnh Thị X; có vợ: Phạm Thị K đã ly hôn và 02 (hai) con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2016;

Tiền án: 01, ngày 23/6/2022 bị Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 50 triệu đồng về “Tội tổ chức đánh bạc”;

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 26/4/2023 đến ngày 04/5/2023, từ ngày 05/5/2023 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có mặt.

3. Nông Văn Q (tên gọi khác: Không); sinh ngày 25 tháng 6 năm 1964 tại huyện H, tỉnh Cao Bằng.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm N, xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Tày; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Nông Văn À và bà Nông Thị L (đều đã chết); có vợ là Vũ Thị Y và 02 (hai) con, lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh năm 1991;

Tiền án: 01, ngày 23/6/2022 bị Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 20 triệu đồng về tội đánh bạc;

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 26/4/2023 đến ngày 04/5/2023, từ ngày 05-5-2023 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 15 phút ngày 25/04/2023 tại tổ X, thị trấn X huyện H, Tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H bắt quả tang Nông Văn A đang có hành vi nhận số lô, số đề trái phép qua tin nhắn điện thoại từ thư ký đề và những người chơi trực tiếp gửi đến, cùng khoảng thời gian trên tại xóm S, xã S, H công tác khác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện bắt quả tang Lương Văn M đang có hành vi ghi các số lô, đề trái phép và nhận qua tin nhắn điện thoại rồi chuyển lại cho Nông Văn A. Quá trình bắt quả tang và khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nông Văn A thu giữ 02 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung; Lương Văn M thu giữ 01 tờ giấy kẻ ô ly có ghi số lô, đề; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO; 01 tập giấy cáp có liên quan đến hành vi tổ chức đánh bạc, Tổ công tác đã chụp ảnh màn hình điện thoại hiện thị các tin nhắn và tiến hành niêm phong điện thoại theo đúng quy định.

Quá trình điều tra xác định được: Do vụ lợi cá nhân khoảng 18 giờ 13 phút, ngày 25/4/2023 tại tổ X, thị trấn X, huyện H, Nông Văn A làm chủ đề sử dụng 02 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung đang nhận số lô, đề qua tin nhắn SMS và ứng dụng Zalo để tổ chức đánh bạc trái phép từ Lương Văn M, Hoàng Văn Đ, Bế Ích N, Đỗ Thị N1, Nông Thị Thu H2, Nông Thị N2, người dùng Zalo tên "Nguyên phạt", người tên Đinh Đăng Đ1 (không biết tên, địa chỉ cụ thể) là các thư kí để và Nguyễn Văn H, Lý Văn C, Đỗ Thị Thu M1, Triệu Thị H3 là những người đánh bạc với tổng số tiền 244.294.000 đồng thì bị bắt quả tang. Hoàng Văn Đ là thư ký đề cho Nông Văn A ngày 25/04/2023, tại xóm N, N, H, bán số lô, đề được số tiền đánh bạc là 7.165.000 đồng (bảy triệu một trăm sáu mươi năm nghìn đồng), sau đó sử dụng điện thoại di động nhắn tin SMS số lô đề cho A để hưởng tiền chênh lệch phần trăm;

Lý Văn C sử dụng điện thoại di động nhắn tin SMS mua sổ lộ, để để đánh bạc với Nông Văn A tổng số tiền 7.320.000 đồng (bảy triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng);

Nguyễn Văn H sử dụng điện thoại di động nhắn tin SMS mua số lô, đề để đánh bạc với Nông Văn A tổng số tiền là 8.892.000 đồng (tám triệu tám trăm chín mươi hai nghìn đồng);

Nông Văn Q là thư ký đề cho Lương Văn M ngày 25/04/2023 bản số lô, số đề trái phép cho những người không quen biết được số tiền đánh bạc 13.637.500 đồng (mười ba triệu sáu trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm đồng) Sau đó sử dụng điện thoại di động chụp ảnh bảng lỗ, để rồi gửi qua ứng dụng Zalo cho Lương Văn M để hưởng tiền chênh lệch phần trăm;

Đào Thị N3 ngày 25/04/2023 đánh bạc bằng cách ghi các số lô, đề cùng số tiền cược vào một tờ giấy rồi sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Redmi chụp ảnh lại sau đó thông qua ứng dụng Zalo gửi hình ảnh cho Lương Văn M để đánh bạc với tiền là 39.310.000 đồng (ba mươi chín triệu ba trăm mười nghìn dong);

Nông Thị T sử dụng điện thoại di động nhắn tin SMS mua số lộ, để trái phép để đánh bạc với Lương Văn M tổng số tiền 8.390.000 đồng (tám triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng).

Các bị cáo và những người đánh bạc chưa thanh toán số tiền đánh bạc, tiền phần trăm chênh lệch với nhau thì bị cơ quan chức năng phát hiện ngăn chặn trước khi Công ty X1 quay số mở thưởng, các bị can chưa có thu lợi bất chính.

Tại Bản án sơ thẩm số: 21/2023/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng đã quyết định:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn A phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

Các bị cáo Hoàng Văn Đ, Nguyễn Văn H, Lý Văn C, Đào Thị N3, Nông Văn Q, Nông Thị T phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nông Văn A xử phạt: Nông Văn Ang 120.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước, được trừ đi số tiền 42.150.000 đồng đang tạm giữ, bị cáo còn phải nộp số tiền 77.850.000 đồng.

Căn cứ vào khoản 1 điều 321; điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn H xử phạt: Nguyễn Văn H 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bắt đi chấp hành án, nhưng được trừ đi thời hạn tạm giữ từ ngày 26/4/2023 đến ngày 04/5/2023.

Căn cứ vào khoản 1 điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nông Văn Q xử phạt: Nông Văn Quân 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bắt đi chấp hành án, nhưng được trừ đi thời hạn tạm giữ từ ngày 26/4/2023 đến ngày 04/5/2023.

Căn cứ vào khoản 1 điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hoàng Văn Đ xử phạt: Hoàng Văn Đ 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bắt đi chấp hành án, nhưng được trừ đi thời hạn tạm giữ từ ngày 26/4/2023 đến ngày 04/5/2023.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Hình sự đối với 03 bị cáo: Lý Văn C, Đào Thị N3, Nông Thị T, xử phạt:

+ Đào Thị N3 25.000.000 nộp ngân sách Nhà nước.

+ Lý Văn C 20.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

+ Nông Thị T 20.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, truy thu tiền do các bị cáo phạm tội mà có, án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06 tháng 10 năm 2023, bị cáo Hoàng Văn Đ, Nông Văn Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo Nguyễn Văn H kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc chuyển sang hình phạt tiền.

Các bị cáo khác trong cùng một vụ án không có kháng cáo.

Tại phiên toà phúc thẩm: Các bị cáo Hoàng Văn Đ, Nông Văn Q đều giữ nguyên nội dung kháng cáo, bị cáo Nguyễn Văn H thay đổi nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên và khai như sau: Ngày 25/4/2023 bị cáo Hoàng Văn Đ làm thư ký ghi lô, đề cho Nông Văn A để hưởng tiền chênh lệch phần trăm. Tổng số tiền ghi lô, đề là: 7.165.000 đồng. Số tiền đánh bạc và tiền chênh lệch phần trăm giữa bị cáo và A chưa thanh toán cho nhau; Bị cáo Nguyễn Văn H mua số lô, đề để đánh bạc với Nông Văn A tổng số tiền là 8.892.000 đồng, bị cáo chưa thanh toán tiền cho A; Bị cáo Nông Văn Q là thư ký đề cho Lương Văn M ngày 25/04/2023 bán số lô, số đề trái phép với số tiền là 13.637.500 đồng để hưởng tiền chênh lệch phần trăm, giữa bị cáo và M chưa thanh toán tiền cho nhau. Số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc bị cấp sơ thẩm tuyên truy thu nộp ngân sách Nhà nước, các bị cáo đã nộp xong. Các bị cáo thấy rằng cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo với mức án quá nghiêm khắc so với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Căn cứ xin giảm nhẹ hình phạt như sau:

+ Bị cáo Hoàng Văn Đ nộp 01 (một) Biên lai thu tiền số 0002012 ngày 11/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng với số tiền 5.365.000đ (tiền án phí và tiền truy thu) và 01 (một) đơn trình bày (có chính quyền địa phương xác nhận) về hoàn cảnh gia đình, về việc tham gia ủng hộ, đóng góp các loại quỹ do địa phương phát động. Cụ thể: Ủng hộ xây dựng nhà văn hóa số tiền: 500.000đ; ủng hộ trong giải Bóng đá thanh niên nam của xã với số tiền: 200.000đ.

+ Bị cáo Nguyễn Văn H nộp 01 (Một) Biên lai thu tiền số 0002011 ngày 08/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng với số tiền 9.092.000đ (tiền án phí và tiền truy thu).

+ Bị cáo Nông Văn Q nộp 01 (Một) Biên lai thu tiền số 0002014 ngày 15/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng với số tiền 837.000đ (tiền án phí và tiền truy thu) và đơn trình bày (có chính quyền địa phương xác nhận) về hoàn cảnh gia đình, về việc tham gia ủng hộ, đóng góp các loại quỹ do địa phương phát động Cụ thể: Ủng hộ vì người nghèo số tiền: 500.000đ; ủng hộ trong giải Bóng đá thanh niên nam của xã với số tiền: 100.000đ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án nhận định: Tòa án sơ thẩm xử phạt Các bị cáo Hoàng Văn Đ, Nguyễn Văn H, Nông Văn Q, về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 điều 321của Bộ luật Hình sự 2015 là đúng quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm vụ án bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định nên là hợp lệ.

Xét kháng cáo của các bị cáo: Các bị cáo Hoàng Văn Đ, Nông Văn Q, Nguyễn Văn H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, căn cứ xin được giảm nhẹ hình phạt gồm: Sau khi xét xử sơ thẩm các bị cáo đã nộp tiền án phí và tiền truy thu theo bản án sơ thẩm số: 21/2023/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, theo các Biên lai thu tiền số 0002012 ngày 11/12/2023, Biên lai thu tiền số 0002011 ngày 08/12/2023; Biên lai thu tiền số 0002014 ngày 15/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.

Ngoài ra Bị cáo Q và bị cáo Đ còn nộp thêm đơn trình bày (có chính quyền địa phương xác nhận) về hoàn cảnh gia đình, về việc tham gia ủng hộ, đóng góp các loại quỹ do địa phương phát động.

Xét thấy tại phiên tòa phúc thẩm phát sinh các tình tiết mới làm căn cứ để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng Điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 21/2023/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Tuyên giảm hình phạt cho bị cáo Hoàng Văn Đ từ 4 đến 6 tháng; cho bị cáo Nguyễn Văn H và Nông Văn Q từ 3 đến 5 tháng.

Các bị cáo nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến gì tranh luận.

Trong lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo có đơn kháng cáo; đơn kháng cáo của các bị cáo viết trong hạn luật định và đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, do đó kháng cáo của các bị cáo là hợp lệ.

Về hành vi phạm tội: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phúc thẩm hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và đủ căn cứ kết luận: Ngày 25/4/2023 Nông Văn A làm chủ đề nhận số lô, đề qua tin nhắn SMS và ứng dụng Zalo để tổ chức đánh bạc trái phép từ Lương Văn M, Hoàng Văn Đ, Bế Ích N, Đỗ Thị N1, Nông Thị Thu H2, Nông Thị N2, người dùng Zalo tên "Nguyên phạt", người tên Đinh Đăng Đ1 (không biết tên, địa chỉ cụ thể) là các thư kí đề và Nguyễn Văn H, Lý Văn C, Đỗ Thị Thu M1, Triệu Thị H3 là những người đánh bạc với tổng số tiền 244.294.000 đồng thì bị bắt quả tang. Hoàng Văn Đ là thư ký đề cho Nông Văn A ngày 25/04/2023, tại xóm N, N, H, bán số lô, đề được số tiền đánh bạc là 7.165.000 đồng (bảy triệu một trăm sáu mươi năm nghìn đồng), sau đó gửi số lô, đề cho A để hưởng tiền chênh lệch phần trăm;

Nguyễn Văn H sử dụng điện thoại di động nhắn tin SMS mua số lô, đề để đánh bạc với Nông Văn A tổng số tiền là 8.892.000 đồng (tám triệu tám trăm chín mươi hai nghìn đồng);

Nông Văn Q là thư ký đề cho Lương Văn M ngày 25/04/2023 bán số lô, số đề trái phép cho những người không quen biết được số tiền đánh bạc 13.637.500 đồng (mười ba triệu sáu trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm đồng), sau đó gửi qua ứng dụng Zalo cho Lương Văn M để hưởng tiền chênh lệch phần trăm;

Với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ, Nguyễn Văn H, Nông Văn Q, phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Xét yêu cầu kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Hoàng Văn Đ, Nguyễn Văn H, Nông Văn Q đã khai báo thành khẩn, nhận thức đầy đủ về hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối cải và cung cấp thêm các tài liệu, chứng cứ để làm căn cứ xin giảm hình phạt. Cụ thể:

Bị cáo Hoàng Văn Đ nộp Biên lai thu tiền số 0002012 ngày 11/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng với số tiền 5.365.000 đồng;

Bị cáo Nguyễn Văn H nộp Biên lai thu tiền số 0002011 ngày 08/12/2023 của của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng với số tiền 9.092.000 đồng.

Bị cáo Nông Văn Q nộp Biên lai thu tiền số 0002014 ngày 15/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng với số tiền 837.000 đồng.

Số tiền các bị cáo nộp là tiền án phí và tiền truy thu theo bản án sơ thẩm số: 21/2023/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.

Ngoài ra bị cáo Q và bị cáo Đ còn nộp thêm đơn trình bày (có chính quyền địa phương xác nhận) về hoàn cảnh gia đình, về việc tham gia ủng hộ, đóng góp các loại quỹ do địa phương phát động.

Đây là những tình tiết mới phát sinh tại phiên tòa phúc thẩm, cần xem xét cho các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với các bị cáo. Xét thấy cấp sơ thẩm tuyên xử các bị cáo mức hình phạt tù là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo cung cấp thêm các tình tiết mới làm căn cứ xin giảm nhẹ hình phạt. Do vậy, cần chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt cho các bị cáo là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

Về án phí: Do kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ Điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Hoàng Văn Đ, Nguyễn Văn H, Nông Văn Q; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 21/2023/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Xử:

- Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn Đ 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bắt đi chấp hành án, nhưng được trừ đi thời hạn tạm giữ từ ngày 26/4/2023 đến ngày 04/5/2023.

- Áp dụng Khoản 1 điều 321; Điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 07 (bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bắt đi chấp hành án, nhưng được trừ đi thời hạn tạm giữ từ ngày 26/4/2023 đến ngày 04/5/2023.

- Áp dụng Khoản 1 điều 321; Điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nông Văn Q 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bắt đi chấp hành án, nhưng được trừ đi thời hạn tạm giữ từ ngày 26/4/2023 đến ngày 04/5/2023. 2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Hoàng Văn Đ, Nguyễn Văn H, Nông Văn Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ