- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ việc ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn chị Nguyễn Thị H
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2023/HNGĐ-ST Ngày: 12/4/2023 V/v tranh chấp: " Hôn nhân và gia đình" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phương Phú, ông Phan Đình Trung
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Thỏa. Thư ký, Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương tham gia phiên tòa: Bà; Nguyễn Thị Trà - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 05/2023/TLST-HNGĐ, ngày 10/01/2023, về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2023/QĐXX-ST, ngày 28/3/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh; Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1979. Địa chỉ: Thôn Hà Lương, xã VL, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Có mặt
2. Bị đơn: Chị; Nguyễn Thị H, sinh năm 1980. Địa chỉ: Thôn Hà Lương, xã VL, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn xin ly hôn, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa, anh Nguyễn Văn Đ trình bày như sau:
- Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Đ kết hôn với chị Nguyễn Thị H vào ngày 10/3/2002, trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã Thanh Giang, huyện Thanh Chương, nơi quê hương của vợ. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sống tại Sài Gòn làm ăn đến 2009 thì về quê nhà nội ở xã VL, huyện Thanh Chương sinh sống cùng ông bà nội ở Thôn Hà Lương, xã VL, huyện Thanh Chương. Tình cảm vợ chồng sau khi cưới sống hạnh phúc bình thường. Đến khoảng đầu năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung; đến năm 2018 thì mâu thuẫn trầm trọng, hai người sống ly thân, chị Nguyễn Thị H về bên ngoại ở xóm Giang Tiên, xã Thanh Giang, huyện Thanh Chương, sống cùng bố mẹ chị Nguyễn Thị H tên Nguyễn Văn Long và bà Phan Thị Sâm. Đến tháng 7/2022, anh làm đơn xin ly hôn, thì Thôn Hà Lương, xã VL cũng đã hòa giải, chị Nguyễn Thị H cũng nhất trí ly hôn và ký vào biên bản hòa giải của xóm. Nay anh Nguyễn Văn Đ xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên xin được ly hôn chị Nguyễn Thị H.
- Về con cái: Vợ chồng có 03 con chung với nhau; gồm Nguyễn Thị Thùy Trang, sinh ngày 12/4/2002; Nguyễn Thị Khánh Linh, sinh ngày 02/9/2012 và Nguyễn Thị Mộc Trà, sinh ngày 04/7/2015. Cháu Nguyễn Thị Thùy Trang đã lấy chồng về xã Thanh Đồng, huyện Thanh Chương. Nay ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi 02 cháu còn lại và không yêu cầu chị Nguyễn Thị H cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản và nợ: Anh Nguyễn Văn Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã triệu tập để công khai chứng cứ và hòa giải, song chị Nguyễn Thị H vắng mặt, cho nên không thể thực hiện được việc công khai chứng cứ và hòa giải. Tại Đơn xin xử vắng mặt chị Nguyễn Thị H trình bày như sau:
Chị đã nhận được các Thông báo, văn bản tố tụng của Tòa án; nhưng do điều kiện công việc chị không thể đến Tòa án được, chị đề nghị giải quyết vắng mặt và có ý kiến như sau:
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H kết hôn với anh Nguyễn Văn Đ kết vào ngày 10/3/2002, trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã Thanh Giang, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Nay tình cảm vợ chồng không còn, anh Nguyễn Văn Đ xin ly hôn, thì chị nhất trí.
- Về con cái: Vợ chồng có 03 con chung với nhau; gồm Nguyễn Thị Thùy Trang, sinh ngày 12/4/2002; Nguyễn Thị Khánh Linh, sinh ngày 02/9/2012 và Nguyễn Thị Mộc Trà, sinh ngày 04/7/2015. Cháu Nguyễn Thị Thùy Trang đã phát triển bình thường, nên không có ý kiến gì. Còn lại ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Thị Mộc Trà; giao cháu Nguyễn Thị Khánh Linh cho anh Nguyễn Văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng; hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
- Về tài sản và nợ: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về mặt thủ tục tố tụng. Còn về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử cho anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn chị Nguyễn Thị H; giao cho anh Nguyễn Văn Đ trực tiếp nuôi Nguyễn Thị Khánh Linh. Giao cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Mộc Trà. Về tài sản không xem xét; các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập bị đơn để công khai chứng cứ và hòa giải, song do chị Nguyễn Thị H vắng mặt, cho nên không thể thực hiện việc hòa giải và công khai chứng cứ. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn đã được tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt, cho nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử bình thường theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Cuộc hôn nhân giữa anh Nguyễn Văn Đ và anh Nguyễn Thị H, được xác lập trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 10/3/2002 tại UBND xã Thanh Giang, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sống tại quê nội ở xã VL, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.Vợ chồng sống tình cảm bình thường đến đầu năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, không tìm được tiếng nói chung, đến năm 2018 thì mâu thuẫn trầm trọng, nên hai người đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập để công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Nguyễn Văn Đ vẫn nhất quyết xin ly hôn, còn chị Nguyễn Thị H cũng xét thấy tình cảm không còn, nên nhất trí ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, việc xin ly hôn của anh Nguyễn Văn Đ, là hoàn toàn phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận cho anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn chị Nguyễn Thị H.
Về trách nhiệm nuôi con: Vợ chồng thống nhất có 03 con chung với nhau, tên là Nguyễn Thị Thùy Trang, sinh ngày 12/4/2002; Nguyễn Thị Khánh Linh, sinh ngày 02/9/2012 và Nguyễn Thị Mộc Trà, sinh ngày 04/7/2015.
Cháu Nguyễn Thị Thùy Trang đã trưởng thành, còn lại 02 con, anh Nguyễn Văn Đ thì muốn xin được trực tiếp nuôi 02 con, chị Nguyễn Thị H thì đề nghị mỗi người nuôi một cháu. Xét thấy nguyện vọng được trực tiếp nuôi con của 2 người là hoàn toàn chính đáng, thể hiện tình cảm của người làm cha, làm mẹ đối với các con. Song xét thấy để đảm bảo điều kiện về mọi mặt khi nuôi dạy các con trưởng thành; thì cần giao cho anh Nguyễn Văn Đ được nuôi cháu Nguyễn Thị Khánh Linh; giao cho chị Nguyễn Thị H được trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Thị Mộc Trà và hai bên không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho nhau, là hoàn toàn phù hợp với Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.
Về chia tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa án không xem xét giải quyết về phần tài sản.
Về án phí: Anh Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên ;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; Điều 147; 227; 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 51; 56; 81; 82; 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình. Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn chị Nguyễn Thị H
2. Về trách nhiệm nuôi con:
Giao cho anh Nguyễn Văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Khánh Linh, sinh ngày 02/9/2012. Giao cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Mộc Trà, sinh ngày 04/7/2015.
Hai người không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
3. Về chia tài sản chung: Tòa án không xem xét.
4. Về án phí: Anh Nguyễn Văn Đ, phải chịu: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí xin ly hôn. Anh Nguyễn Văn Đ, được trừ đi 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0009299, ngày 10/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
5. Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị đơn, có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết công khai.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Nghệ An - VKS huyện Thanh Chương - Chi cục THA dân sự - Các đương sự - UBND xã Thanh Giang - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( đã ký ) Nguyễn Trọng Sơn |