vanban.org

Bản án 56/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị C.

Buộc anh Thân Văn K phải có nghĩa vụ trả chị Hà Thị C 1,5 chỉ vàng SJC 9999 tương đương với số tiền là 8.572.500 đồng (Tám triệu năm trăm bẩy mươi hai nghìn, năm trăm đồng). Kể từ ngày bản án, Q định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra Q định thi hà…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "chị C, anh K"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị C.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 164 Bộ luật Dân sự
TAND HUYỆN LG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2023/DS-ST
Ngày 12-9-2023
V/v tranh chấp kiện đòi tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thành Đô

Ông Nguyễn Quang Vinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện LG.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LG, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Vi Đức Thứ- Kiểm sát viên

Ngày 12 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện LG tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 91/2023/TLST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2023 về “Tranh chấp kiện đòi tài sản” theo Q định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2023/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hà Thị C, sinh năm 1988 (có mặt)

Trú tại: Thôn L3, xã Y, huyện LG, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1995 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn Lục, tỉnh Bắc Giang

- Bị đơn: Anh Thân Văn K, sinh năm 1986 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn NT, xã HL, huyện LG, tỉnh Bắc Giang.

-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Đỗ Thị L9, sinh năm 1985 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn NGH1, xã TH, huyện LG, tỉnh Bắc Giang

-Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Nghĩa, sinh năm 1962 (có mặt)

Trú tại: Thôn NGH1, xã TH, huyện LG, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại đơn khởi kiện các bản tự khai tiếp theo nguyên đơn chị Hà Thị C trình bày: Tháng 5/2019 chị Hà Thị C có cho anh Thân Văn K và chị Đỗ Thị L9 vay 03 chỉ vàng SJC 9999 số vàng cho vay này là của hồi môn riêng của chị khi lấy chồng được tặng cho, vì là chỗ em dâu của chị L9 nên khi cho vay 03 chỉ vàng không viết giấy tờ mà chỉ đưa tay có bà Nguyễn Thị Nghĩa là mẹ chồng chị chứng kiến, khi vay vàng anh K, chị L9 hẹn khi nào chị C cần thông báo thì sẽ trả. Đầu tháng 4/2021, anh K và chị L9 ly hôn, chị C đã yêu cầu anh K, chị L9 trả vàng cho chị nhưng anh K và chị L9 chưa trả. Ngày 22/4/2021 giữa anh K và chị L9 có biên bản thỏa thuận về việc phân chia tài sản, nuôi con và giải Q các khoản nợ chung, nội dung biên bản thỏa thuận anh K có trách nhiệm nhận trả nợ cho chị 03 chỉ vàng hẹn chậm nhất vào ngày 20/8/2022 sẽ trả cho chị số vàng trên. Kể từ đó đến nay anh K không thực hiện nghĩa vụ trả nợ vàng như đã thỏa thuận. Nay chị C yêu cầu anh K phải có trách nhiệm trả chị 03 chỉ vàng SJC 9999 giá là 5.715.000 đồng/chỉ, tổng là 17.145.000 đồng. Trường hợp Tòa án xác định đây là nợ chung trong thời kỳ hôn nhân giữa chị L9 và anh K thì chị cũng chỉ yêu cầu một mình anh K có trách nhiệm trả chị khoản nợ này và không yêu cầu Tòa án giải Q phần nghĩa vụ trả nợ của chị Đỗ Thị L9.

Tại phiên tòa chị Hà Thị C vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện trên.

Tại phiên tòa anh Nguyễn Văn Q đại diện theo ủy quyền của chị Hà Thị C vẫn giữ nguyên quan điểm như chị C đã trình bày trên và đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị C.

*Tại bản tự khai, các lời khai tiếp theo bị đơn anh Thân Văn K trình bày: Lời khai của chị C trình bày vào tháng 5/2019 anh và chị L9 có vay của chị Hà Thị C 03 chỉ vàng là không đúng. Việc chị C trình bày tháng 4/2021 khi anh và chị L9 ly hôn chị C có đòi số vàng này là không đúng. Văn bản thỏa thuận ngày 22/4/2021 giữa anh và chị Đỗ Thị L9 được lập nội dung văn bản này anh không được biết, giữa anh và chị L9 không có thỏa thuận nào về việc phân chia tài sản chung, nợ chung của vợ chồng. Tại Q định công nhận thuận tình ly hôn số 98/2021/QĐST-HNGĐ ngày 05/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện LG chưa giải Q về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản. Các nội dung trong văn bản thỏa thuận ngày 22/4/2021 ghi theo ý của chị L9, anh không được biết, đến khi chị C có đơn khởi kiện được Tòa án thông báo anh mới biết đến biên bản thỏa thuận việc phân chia nợ chung này. Anh xác định phần chữ ký bên chồng phần cuối văn bản thỏa thuận này là chữ viết chữ ký của anh nhưng nguồn gốc có văn bản này và nội dung thỏa thuận ghi trong văn bản thì anh không nắm được. Anh khẳng định anh không vay vàng của chị C, còn việc chị L9 có vay hay không anh không được biết. Nay chị C khởi kiện yêu cầu anh phải trả cho chị C 03 chỉ vàng quan điểm của anh không vay số vàng này, anh không đồng ý trả. Trường hợp chị L9 vay số vàng này trong thời kỳ hôn nhân thì chị L9 phải một mình có trách nhiệm trả chị C 03 chỉ vàng trên. Đối với biên bản thỏa thuận chia tài sản chung ngày 22/4/2021 anh hoàn toàn không biết và không đồng ý với toàn bộ nội dung các điều khoản đã thỏa thuận trong văn bản này và nó không có giá trị pháp lý bởi vì bản thân anh không được tự nguyện thỏa thuận trong văn bản này.

Tại phiên tòa anh Thân Văn K vẫn giữ nguyên quan điểm trên.

*Tại bản tự khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Đỗ Thị L9 trình bày: Tháng 5/2019 anh K và chị có xuống vay của chị Hà Thị C là em dâu của chị 03 chỉ vàng SJC 9999, số vàng này chị cùng anh K đã bán và đưa cho anh K trả nợ Ngân hàng cũng như làm vốn để nhập hàng chạy xe ô tô. Do là chỗ người thân nên khi vay không viết giấy tờ mà hai bên chỉ nói miệng khi nào có sẽ trả sau.

Trong thời gian chị và anh K chung sống từ năm 2007 đến năm 2021 chị và anh K đã tạo lập được các tài sản gồm 01 nhà ở hai tầng và đất ở tại thôn 3 xóm NT, xã HL, huyện LG, tỉnh Bắc Giang; 01 xe ô tô nhãn hiệu THACOOLLIN 07 tấn biển số 98H-00193; và các đồ dùng sinh hoạt như ti vi, tủ lạnh, máy giặt, loa đài... Các tài sản này khi anh chị ly hôn chị không yêu cầu chia mà thỏa thuận để lại cho anh Thân Văn K cùng con trai sử dụng, các khoản nợ chung gồm nợ Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt, nợ Ngân hàng Tiền Phong Bank; nợ vàng và tiền của bà Nguyễn Thị Nghĩa, chị Hà Thị C do anh K phải có trách nhiệm trả. Thỏa thuận này đã được chị và anh K lập thành văn bản ngày 22/4/2021. Vì vậy chị đề nghị Tòa án chấp nhận thỏa thuận ngày 22/4/2021 giữa chị và anh Thân Văn K buộc anh Thân Văn K có trách nhiệm trả cho chị C số vàng nêu trên. Nếu trong trường hợp Tòa án buộc chị và anh K phải liên đới chịu trách nhiệm trả khoản nợ chung nêu trên chị đề nghị anh K phải chia các tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Chị sẽ chấp nhận cùng chịu trách nhiệm trả chung các khoản nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân giữa chị và anh K.

Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Đỗ Thị L9 giữ nguyên quan điểm trên.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LG tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải Q vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa HĐXX sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 164, Điều 166, Điều 280, Điều 287, Điều 288, Điều 463, Điều 466, Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27, Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 2 Điều 26 của Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị Q quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị C.

Buộc anh Thân Văn K phải có nghĩa vụ trả cho chị Hà Thị C 1,5 chỉ vàng SJC 9999 tương đương với số tiền là 8.572.500 đồng.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất giải Q về nghĩa vụ chậm trả tiền, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Ngày 12/6/2023, Tòa án nhân dân huyện LG thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện tranh chấp kiện đòi tài sản của chị Hà Thị C với bị đơn anh Thân Văn K có địa chỉ tại thôn NT, xã HL, huyện LG là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Về tố tụng: Qúa trình thụ lý giải Q vụ án tuân theo đúng trình tự thủ tục quy định của BLTTDS, tại phiên tòa các đương sự đều có mặt. HĐXX tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện và các tài liệu do chị Hà Thị C cung cấp thì thấy tháng 5/2019 chị Hà Thị C có cho và anh Thân Văn K và chị Đỗ Thị L9 vay 03 chỉ vàng SJC 9999. Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp liên quan đến số vàng trên là tranh chấp kiện đòi tài sản quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 164, Điều 166, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Về nội dung: Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hà Thị C, HĐXX xét thấy: Theo lời khai của chị Hà Thị C đề nghị Tòa án giải Q tháng 5/2019 chị Hà Thị C có cho và anh Thân Văn K và chị Đỗ Thị L9 vay 03 chỉ vàng SJC 9999 tương đương với số tiền là 17.145.000 đồng. Do là chỗ người nhà nên hai bên khi cho vay không viết giấy tờ mà chỉ thỏa thuận miệng khi nào chị C cần yêu cầu anh K và chị L9 trả số vàng này. Nay chị C khởi kiện yêu cầu anh Thân Văn K phải trả chị 03 chỉ vàng SJC 9999 đã vay trên.

Quá trình giải Q vụ án phía chị L9 thừa nhận việc vay vàng của chị C là đúng và yêu cầu anh K phải có trách nhiệm trả chị C số vàng đã vay trên, phía anh K không thừa nhận có việc vay số vàng nêu trên của chị C và không đồng ý trả khoản nợ này. Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của người làm chứng qua quá trình đối chất tại phiên tòa có cơ sở khẳng định tháng 5/2019 chị Hà Thị C có cho và anh Thân Văn K và chị Đỗ Thị L9 vay 03 chỉ vàng SJC 9999 khi cho vay do là chỗ chị chồng em dâu nên không viết giấy tờ biên nhận nhưng việc đưa vàng cho vay có bà Nguyễn Thị Nghĩa là người làm chứng. HĐXX xét thấy giao dịch dân sự hợp đồng miệng xác lập giữa hai bên hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 116 của Bộ luật dân sự năm 2015. Khi tham gia giao dịch dân sự chị C, anh K và chị L9 đều có đủ năng lực hành vi dân sự, mục đích và nội dung giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội, người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện phù hợp với quy định tại Điều 117 của Bộ luật dân sự năm 2015. Kể từ khi vay vàng xong đến ngày 22/4/2021 khi chị L9 và anh K ly hôn, hai bên có lập văn bản thỏa thuận giao toàn bộ tài sản chung của vợ chồng cho anh K quản lý sử dụng và anh K có trách nhiệm trả toàn bộ các khoản nợ chung của vợ chồng bao gồm cả khoản nợ 03 chỉ vàng đối với chị Hà Thị C thể hiện bằng chữ viết và chữ ký của anh Thân Văn K tại phần chữ ký bên chồng phần cuối văn bản thỏa thuận này, phía anh Thân Văn K thừa nhận đây là chữ viết chữ ký của anh. Do vậy có căn cứ khẳng định có việc vay mượn vàng giữa chị C và anh K, chị L9.

Trong nội dung văn bản thỏa thuận do chị L9 và anh K tự nguyện thoả thuận có hẹn chậm nhất vào ngày 20/8/2022 anh Thân Văn K sẽ trả cho chị C số vàng trên, tuy nhiên đến nay anh K chưa trả số vàng cho chị C. Nay chị C khởi kiện yêu cầu anh Thân Văn K phải có trách nhiệm trả 03 chỉ vàng SJC 9999 giá là 5.715.000 đồng/chỉ, tổng là 17.145.000 đồng. HĐXX xét thấy yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị C đòi anh K trả số vàng đã vay là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 164, Điều 166, của Bộ luật dân sự năm 2015 cần chấp nhận.

*Về trách nhiệm trả tiền: Xét thấy khoản vay 03 chỉ vàng SJC 9999 của chị Đỗ Thị L9, anh Thân Văn K với chị Hà Thị C từ tháng 5/2019 phát sinh trong thời kỳ hôn nhân giữa anh K và chị L9, quá trình giải Q vụ án phía chị L9 trình bày việc vay vàng mục đích để trả nợ Ngân hàng cũng như làm vốn để nhập hàng chạy xe ô tô phát triển kinh tế chung trong gia đình. Chị L9 yêu cầu anh K có trách nhiệm một mình trả số vàng cho chị C vì theo văn bản thỏa thuận giữa anh chị lập ngày 22/4/2021 các tài sản chung giao cho anh K quản lý sử dụng và anh K có trách nhiệm trả toàn bộ các khoản nợ chung của vợ chồng. Phía anh K cho rằng không có khoản nợ này và anh không đồng ý một mình trả nợ số vàng cho chị C hoặc cùng chị L9 trả nợ cho chị C. Xét thấy khoản vay 03 chỉ vàng SJC 9999 phát sinh trong thời kỳ hôn nhân giữa chị L9 và anh K, mục đích vay vàng để trả nợ Ngân hàng và làm vốn để nhập hàng chạy xe ô tô phát triển kinh tế chung trong gia đình. Khi anh K và chị L9 ly hôn tài sản chung của vợ chồng, nghĩa vụ chung về tài sản chưa được Tòa án giải Q, khoản vay này phát sinh trong thời kỳ hôn giữa anh K và chị L9, phía anh K không đồng ý với nội dung văn bản thỏa thuận ngày 22/4/2021 giữa anh và chị L9. Do vậy cần buộc anh Thân Văn K và chị Đỗ Thị L9 mỗi người cùng phải có trách nhiệm liên đới trả ½ khoản nợ chung là 03 chỉ vàng SJC 9999 tương đương với số tiền 17.145.000 đồng. Tương đương mỗi người phải trả là 8.572.500 đồng cho chị Hà Thị C.

Tuy nhiên, quá trình giải Q vụ án và tại phiên tòa chị Hà Thị C chỉ có yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải Q buộc một mình anh K phải trả khoản nợ 03 chỉ vàng cho chị C và không đề nghị chị Đỗ Thị L9 cùng có trách nhiệm trả nợ, không đề nghị Tòa án giải Q phần nghĩa vụ trả nợ của chị Đỗ Thị L9 trong vụ án. Do vậy chỉ có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị C. Buộc anh K trả cho chị C 1,5 chỉ vàng SJC 9999 tương đương số tiền là 8.572.500 đồng là phù hợp với Điều 27, Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 280; Điều 287; Điều 288 của Bộ luật dân sự 2015.

*Về tiền lãi: Chị Hà Thị C không yêu cầu tính tiền lãi, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải Q.

Về lãi suất phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền: Kể từ ngày bản án, Q định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra Q định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị Q quy định về mức thu, miễn, giảm,thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Do một phần yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị C được chấp nhận, nên buộc chị Hà Thị C phải chịu 428.600 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 430.000 đồng ngày 12/6/2023 đã nộp tạm ứng án phí theo biên lại thu số 0005539 tại chi cục Thi hành án dân sự huyện LG. Hoàn trả chị Hà Thị C số tiền 1.400 đồng tiền tạm ứng án.

Buộc anh Thân Văn K phải chịu 428.600 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Đối với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

Q ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 164, Điều 166, Điều 280, Điều 287, Điều 288, Điều 357, Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27, Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 2 Điều 26 của Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị Q quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị C.

Buộc anh Thân Văn K phải có nghĩa vụ trả chị Hà Thị C 1,5 chỉ vàng SJC 9999 tương đương với số tiền là 8.572.500 đồng (Tám triệu năm trăm bẩy mươi hai nghìn, năm trăm đồng).

Kể từ ngày bản án, Q định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra Q định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí: Buộc chị Hà Thị C phải chịu 428.600 đồng ( Bốn trăm hai mươi tám nghìn, sáu trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 430.000 đồng (Bốn trăm ba mươi nghìn đồng) ngày 12/6/2023 đã nộp tạm ứng án phí theo biên lại thu số 0005539 tại chi cục Thi hành án dân sự huyện LG. Hoàn trả chị Hà Thị C 1.400 đồng (Một nghìn bốn trăm đồng) tiền tạm ứng án phí.

Buộc anh Thân Văn K phải chịu 428.600 đồng ( Bốn trăm hai mươi tám nghìn, sáu trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3.Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ