vanban.org

Bản án 56/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 08/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Trả lại bị cáo Đỗ Văn M số tiền 241.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xaomi Redmi nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án. (Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 7/12/2022) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn M, tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Y
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2022/HSST
Ngày 08 - 12 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH VĨNH PHÚC

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Song Lưu

Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Văn Đoan và Đỗ Hồng Phúc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thúy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Yến, Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 12 năm 2022, tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã H, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, Tòa án nhân dân huyện Y xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2022/TLST ngày 17 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2022/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2022, đối với:

Bị cáo Đỗ Văn M, sinh ngày: 10/10/1963; nơi sinh và cư trú: thôn 5, xã H, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/10; Đảng, đoàn thể: Không; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn T và bà Đặng Thị X; vợ Nguyễn Thị H, có 04 con; tiền sự: Không; tiền án: 01. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 17/HSST ngày 29/8/1986 Tòa án nhân dân tỉnh Hoàng Liên Sơn xử phạt M 09 năm tù về tội: Gián điệp, chấp hành xong hình phạt ngày 14/6/1993, đến nay chưa được xóa án tích theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật hình sự; nhân thân:

+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2005/HSST ngày 19/8/2005, Tòa án nhân dân huyện Y xử phạt M 12 tháng tù cho hưởng án treo, về tội: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 288/HSST ngày 27/12/2007, Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Dương xử phạt M 08 năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù của Bản án số 22/2005/HSST ngày 19/8/2005, Tòa án nhân dân huyện Y, M phải chấp hành phạt chung cho cả hai bản án là 09 năm tù, chấp hành xong hình phạt ngày 10/10/2013, đã được xóa án tích.

+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 67 ngày 28/12/2017, Tòa án nhân dân huyện Y xử phạt M 02 năm 9 tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt ngày 22/01/2020, đã được xóa án tích.

+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 36/QĐ-VPHC ngày 11/01/2016 của Công an huyện Y xử phạt M 1.500.000đ về hành vi trộm cắp tài sản, nộp phạt ngày 12/01/2016, đã được xóa tiền sự.

+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03/QĐ-XPHC ngày 29/10/2020 của Công an xã H xử phạt M 350.000đ về hành vi đánh bạc, đã chấp hành nộp phạt, đã được xóa tiền sự.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/8/2022, hiện nay bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.

Người làm chứng: Anh Nguyễn Chí L, sinh năm 1985; trú tại: thôn P, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Văn M là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 11h30 ngày 05/8/2022, do có nhu cầu sử dụng chất ma túy nên M một mình đi bộ từ nhà ra đường, đi nhờ xe máy của một nam thanh niên qua đường đến khu vực chợ Đ thuộc xã T, huyện M, thành phố Hà Nội tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, M gặp và mua được 02 gói heroine với giá 400.000đồng của một nam thanh niên không rõ lai lịch. M cất 02 gói ma túy vừa mua được vào túi áo ngực bên trái rồi đi bộ về. Đi được khoảng 200m, M vào quán tạp hóa bên phải đường thuộc thôn P, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc mua 01 bao thuốc lá mục đích sử dụng gói giấy bạc để hút heroine thì bị lực lượng Công an xã T kiểm tra, phát hiện bắt quả tang M có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan Công an đã lập biên bản, thu giữ tại túi áo ngực bên trái M đang mặc 02 gói nhỏ bên ngoài bọc nilon, bên trong bọc giấy, trong bọc giấy đựng chất bột cục màu trắng, niêm phong ký hiệu A1; tại túi quần bên trái phía trước M đang mặc 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xaomi Redmi màu xanh đã cũ; tại túi quần phía trước bên phải số tiền 241.000đ.

Tại văn bản số 2417/KLGĐ ngày 09/8/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: “Chất bột cục màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 0,2273g (không phảy hai hai bẩy ba gam, không kể bao bì), loại heroine.

Tại Cáo trạng số: 61/CT-VKSYL ngày 17/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y đã truy tố Đỗ Văn M về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: Đỗ Văn M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, phạt: Đỗ Văn M từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 05/8/2022; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; xử lý vật chứng và tính án phí theo quy định pháp luật.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung Cáo trạng truy tố.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng, tuy nhiên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xác định tội danh và quyết định hình phạt đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng, thể hiện như sau: Khoảng 12 giờ 05 ngày 05/8/2022, tại thôn P, xã T, huyện Y, Đỗ Văn M đang có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói ma túy theo kết luận giám định là heroine có khối lượng 0,2273g để sử dụng cho bản thân thì bị Công an xã T, huyện Y bắt quả tang.

. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy… thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine…có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

. Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội. Ma tuý là một tệ nạn làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người, làm sói mòn đạo đức và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo có 01 tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 17/HSST ngày 29/8/1986 Tòa án nhân dân tỉnh Hoàng Liên Sơn xử phạt 09 năm tù về tội: Gián điệp, đã chấp hành xong hình phạt ngày 14/6/1993, theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật hình sự đến nay chưa được xóa án tích. Ngoài ra bị cáo đã nhiều lần bị Tòa án xét xử, nhiều lần Công an xử phạt hành chính đã được xóa án tích, xóa tiền sự nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện, tu dưỡng bản thân trở thành người có ích cho xã hội mà vẫn tiếp tục sử dụng ma túy và thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tù nghiêm khắc tương xứng với hành vi bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, không thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

. Về xử lý vật chứng: Đối mẫu vật ký hiệu A1 = 0,1783g heroine còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói cần tịch thu tiêu hủy. Số tiền 241.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xaomi Redmi không liên quan đến vụ án cần trả lại bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

. Đối với nam thanh niên bán ma túy cho Đỗ Văn M, do M không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, không đề cập xử lý.

. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt: Đỗ Văn M 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 05/8/2022.

3. Áp dụng khoản 1 Điều 46, khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,1783g heroine còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy ghi “MẪU TRẢ”.

Trả lại bị cáo Đỗ Văn M số tiền 241.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xaomi Redmi nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 7/12/2022)

4. Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Đỗ Văn M phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ