- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đàng Năng B về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự - phạm tội chứa ch…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đàng Năng B phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH NINH THUẬN Bản án số: 56/2022/HS-ST Ngày: 22-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Hường và ông Phạm Ngọc Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên toà: bà Phạm Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 53/2022/TLHS-ST ngày 18 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2022/QĐXX-ST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Đàng Năng B - Sinh ngày: 01/7/2000, tại Ninh Thuận. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn C, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Chăm; Tôn giáo: Bàlamôn; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Họ và tên cha: Đàng Năng S - Sinh năm: 1979; Họ và tên mẹ: Thị C - Sinh năm: 1973; Vợ, con: Chưa có.
- Tiền án, tiền sự: Không.
Đàng Năng B bị bắt tạm giữ ngày 17-9-2022, tạm giam từ ngày 20-9-2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N – Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà: Lộ Thị Mỹ P – Sinh năm: 1996 – Vắng mặt.
+ Bà: Lưu Thị T: Sinh năm: 1972 – Vắng mặt.
Cùng trú: thôn C, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong tháng 7/2021, Quảng Đại Anh G đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn xã P, huyện N, sau khi trộm cắp được tài sản G đưa tài sản cho Đàng Năng B đem đi tiêu thụ để lấy tiền tiêu xài. Cụ thể như sau:
Ngày 22-7-2021, G đột nhập vào nhà bà Trần Thị Nhung lấy trộm 02 máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A (8.0, 2019), 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy S5 G900, màu đen; 01 điện thoại hiệu OPPO A71 (2018) màu hồng; 01 điện thoại hiệu Forme màu đen loại bàn phím và 01 ví da nam, màu đen. Sau khi trộm được tài sản G đưa cho B: 02 máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A (8.0, 2019), B sau đó mang bán cho bà Lộ Thị Mỹ Phượng 01 máy tính bản được 650.000 đồng; bán cho bà Đàng Lưu Thị Trà ở cùng thôn một máy tính bảng được 800.000 đồng. Toàn bộ số tiền bán được B đưa lại cho G.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 38/KLĐGTS-PTCKH ngày 23/9/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N đã kết luận: 01 máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A (8.0, 2019), màu bạc, số IMEI: 356136103043214 trị giá 2.952.000 đồng; 01 máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A (8.0, 2019), màu bạc, số IMEI: 352231112339515 trị giá 2.952.000 đồng và 01 ốp da máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A (8.0, 2019), loại tập sách màu nâu trị giá 135.200 đồng. Tổng giá trị tài sản là 6.039.200 đồng.
Ngoài ra, vào khoảng tháng 7-2021, G đột nhập vào một nhà dân ở thôn C, xã P trộm cắp được 01 điện thoại di động hiệu OPPO A33w, màu đen có gắn ốp lưng bằng nhựa dẻo trong suốt trị giá 200.000 đồng (Bản kết luận định giá tài sản số 43/KLĐGTS-PTCKH ngày 14/10/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N). G đưa chiếc điện thoại trên cho Đàng Năng B, sau đó B bán cho bà Lộ Thị Mỹ Phượng được 380.000 đồng và đưa tiền cho G.
Bản án số 15/2022/HS-ST ngày 22-4-2022 của Tòa án nhân dân huyện N đã tuyên bố Quảng Đại Anh G phạm tội trộm cắp tài sản và tuyên phạt bị cáo Quảng Đại Anh G 18 tháng tù.
Cáo trạng số 56/CT-VKS-HS ngày 18-10-2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận truy tố Đàng Năng B về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N giữ nguyên nội dung truy tố tại bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đàng Năng B phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Đàng Năng B từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự và nghĩa vụ chịu án phí theo quy định của pháp luật;
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận tại phiên tòa; nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại hiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Xét thấy, những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra, truy tố. Việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
. Tại phiên tòa bị cáo Đàng Năng B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu được thu thập khách quan có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở xác định:
Đàng Năng B không không hứa hẹn trước nhưng biết rõ tài sản gồm: 02 máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A (8.0, 2019) và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A33w, màu đen do Quảng Đại Anh G đưa cho để nhờ bán, là tài sản do Quảng Đại Anh G có được từ hành vi trộm cắp tài sản. Để được G cho tiền tiêu dùng, B đã mang bán tài sản trên bán cho bà Lộ Thị Mỹ Phượng và bà Đàng Lưu Thị Trà. Hành vi của Đàng Năng B đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng truy tố là có căn cứ.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Quá trình điều tra, tuy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hinh sự.
. Quyết định hình phạt đối với bị cáo: Xét bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên khi quyết định hình phạt được áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xem xét mức hình phạt đối với bị cáo. Do bị cáo bị bắt theo lệnh truy nã nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống đồng thời để ngăn ngừa và đấu tranh và phòng chống tội phạm.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A (8.0, 2019), màu bạc, số IMEI: 356136103043214; 01 máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A (8.0, 2019), màu bạc, số IMEI: 352231112339515 và 01 ốp da máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A (8.0, 2019) đã được giải quyết trong bản án số 15/2022/HS-ST ngày 22-4-2022 của Tòa án nhân dân huyện N xét xử hành vi trộm cắp tài sản của Đàng Năng G, nên không xem xét đến. Đối với một điện thoại di động hiệu OPPO A33w, màu đen có gắn ốp lưng bằng nhựa dẻo trong suốt, do chưa xác định được bị hại, cơ quan điều tra đã tách ra xử lý bằng vụ án khác nên bản án số 15/2022/HS-ST ngày 22-4-2022 của Tòa án nhân dân huyện N không xem xét. Đến nay, vẫn chưa xác định được chủ sở hữu chiếc điện thoại này do đó tiếp tục giao vật chứng cho Công an huyện N điều xác, xác minh làm rõ và xử lý sau là phù hợp.
. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, bà Phượng yêu bị cáo B phải trả lại số tiền 1.030.000 đồng là tiền mà bà Phượng đã bỏ ra để mua tài sản do B bán. Xét thấy bản án số 15/2022/HS-ST ngày 22-4-2022 của Tòa án nhân dân huyện N chưa giải quyết nội dung này, nên bà Phượng yêu là có cơ sở. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý trả lại cho chị Phượng nên Hội đồng xét xử ghi nhận, buộc bị cáo phải trả lại số tiền 1.030.000 đồng cho bà Phượng.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Đàng Năng B phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đàng Năng B 04 (Bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 17-9-2022).
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Đàng Năng B phải trả lại số tiền 1.030.000 đồng cho bà Lộ Thị Mỹ Phượng.
* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a,c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Đàng Năng B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa, quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 22/11/2022). Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND huyện N; - Công an huyện N; - Chi cục THADS huyện N; - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: hồ sơ, án văn. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Phú Anh Lân Lê Thị Hường | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tùng THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tùng |