- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sằm Văn T1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Sằm Văn T1 (tên gọi khác: Ch) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2022/HS-ST Ngày 15-8-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tuấn Tú.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Xuân Tuyến;
2. Ông Lý Văn Tòng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Duy Luận - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/TLST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2022/QĐXXST-HS, ngày 01/8/2022, đối với bị cáo:
Sằm Văn T1, (tên gọi khác: Ch), sinh ngày 04/4/2000, tại huyện C, tỉnh Tuyên Quang;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, chỗ ở: Thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; bố đẻ: Sằm Văn T2, sinh năm 1975; mẹ đẻ: Quan Thị Nh, sinh năm 1979; vợ, con: Chưa có.
Tiền án: 01 tiền án, Bản án số 15/2021/HSST ngày 12/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tuyên Quang xử phạt Sằm Văn T1 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, bồi thường thiệt hại số tiền 4.050.000 đồng (chưa bồi thường). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/8/2021;
Tiền sự: 01 tiền sự, Quyết định về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã số 41/QĐ-UBND ngày 19/8/2020 của UBND xã T, huyện C, thời hạn áp dụng là 03 tháng từ ngày 19/8/2020 đến 19/11/2020.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/4/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 14/4/2022, Sằm Văn T1 đi nhờ xe mô tô của người đàn ông không quen biết đi đến khu vực S, thuộc xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang mục đích tìm mua chất ma túy về sử dụng. Đến nơi, T1 xuống xe đi bộ một đoạn khoảng 100m thì gặp một người đàn ông không quen biết tự giới thiệu tên là L, T1 hỏi mua được 01 gói ma túy (có đặc điểm bên ngoài là lớp nilong màu trắng, tiếp theo là lớp giấy màu trắng có dòng kẻ, trong cùng là Heroine) với giá 300.000 đồng. Mua được Heroine T1 cất vào túi quần bên trái đang mặc rồi đi nhờ xe máy của một người đàn ông không quen biết đi đến khu vực thôn L, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang thì xuống xe, T1 đi bộ vào chỗ vắng người lấy gói Heroine vừa mua được ra sử dụng hết một phần bằng cách đốt hít vào cơ thể, số Heroine còn lại T1 gói lại như cũ cất giấu vào túi quần bên trái đang mặc rồi đi bộ về nhà. Khoảng 22 giờ cùng ngày khi T1 cách vị trí vừa sử dụng ma túy được khoảng 500m thì gặp tổ công tác Công an huyện C đang làm nhiệm vụ, nghi T1 có hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy, Tổ công tác đã yêu cầu T1 về trụ sở UBND xã T, huyện C để làm việc và mời người chứng kiến tham gia. Quá trình làm việc T1 đã tự giác giao nộp gói Heroine có đặc điểm nêu trên. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T1 về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ cùng toàn bộ vật chứng.
Hồi 04 giờ 30 phút, ngày 15/4/2022 tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy đối với Sằm Văn T1, có kết quả: (+) Dương tính (có chất ma túy trong cơ thể).
Tại Kết luận giám định số 464/KL-KTHS ngày 20/4/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Chất bột vón cục màu trắng gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine; có khối lượng là 0.128g (không phẩy một hai tám gam).
Tại Cáo trạng số 56/CT-VKSCH, ngày 22 tháng 7 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa đã truy tố bị cáo Sằm Văn T1 về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Sằm Văn T1 phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; đoạn 1 điểm h, khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Sằm Văn T1 từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam, ngày 14/4/2022.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy không có tính vụ lợi, là dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng: Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy khối lượng Heroine thu giữ của bị cáo đã được niêm phong.
- Đối với người đàn ông bán Heroine cho Sằm Văn T1 quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xử lý.
- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Sằm Văn T1 Công an huyện C đã xử phạt vi phạm hành chính, nên không đề nghị xem xét.
- Áp dụng các Điều 135, 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án.
Tại phiên tòa bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, không có tình tiết mới. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì kết luận giám định. Bị cáo nhất trí luận tội, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Khi nói lời sau cùng bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chiêm Hóa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Sằm Văn T1 thành khẩn nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ ngày 14/4/2022, tại thôn L, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, Sằm Văn T1 đã có hành vi Tàng trữ trái phép 0,128g (không phẩy một hai tám gam) Heroine, mục đích để sử dụng. Đủ cơ sở xác định bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án, Bản án số 15/2021/HSST ngày 12/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xử phạt Sằm Văn T1 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/8/2021. Bị cáo chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52 (tái phạm) Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, là dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
. Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an, tạo dư luận xấu tại địa phương và là một trong những nguyên nhân gây ra các tội phạm, tệ nạn xã hội khác.
Bị cáo là người có nhân thân xấu: Có 01 tiền sự, Quyết định số 41/QĐ-UBND ngày 19/8/2020 của UBND xã T, huyện C áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày 19/8/2020 đến 19/11/2020 (lý do áp dụng: Là người nghiện ma túy); 01 tiền án tại Bản án số 15/2021/HSST ngày 12/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện C, xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/8/2021, chưa được xóa án tích. Sau khi bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã và chấp hành án phạt tù bị cáo không rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà tiếp tục có hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt tù nghiêm minh tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, buộc bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời góp phần vào công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, khối lượng chất ma tuý mà bị cáo tàng trữ, cũng như nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, có căn cứ.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo là người lao động tự do, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo nhằm mục đính sử dụng, không có mục đích vụ lợi, bị cáo là dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
. Về vật chứng: Đối với số Heroine thu giữ của bị cáo đã được niêm phong là vật chứng vụ án, đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Sằm Văn T1, ngày 07/7/2022 Công an huyện C đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 68/QĐ-XPHC, bằng hình thức phạt: Cảnh cáo, nên không xem xét xử lý.
. Đối với người bán ma túy cho bị cáo Sằm Văn T1, do không xác định được họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xem xét xử lý.
. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Sằm Văn T1 (tên gọi khác: Ch) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Sằm Văn T1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 14/4/2022.
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số heroine đã thu giữ của Sằm Văn T1, vật chứng là 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Sằm Văn T1, thành phần tham gia và 05 (năm) hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang. Mặt trước ghi tang vật vụ Sằm Văn T1, giám định ngày 15/4/2022.
Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Chiêm Hóa với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa ngày 29/7/2022.
4. Về án phí: Bị cáo Sằm Văn T1 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 15/8/2022.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện Chiêm Hóa; - Trại Tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang; - Công an huyện Chiêm Hóa; - Chi cục THADS huyện Chiêm Hóa; - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang; - UBND xã nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; - Hồ sơ vụ án hình sự; - Lưu HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Xuân Tuyến – Lý Văn Tòng | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Tuấn Tú THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Tuấn Tú |