- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án tranh chấp về HNGĐ giữa Nguyên đơn chị Lê Thị L và bị đơn anh Nguyễn Văn N"
- Tòa quyết gì? [1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn N.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2022/HNGĐ-ST Ngày 21-7-2022 V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ -TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đinh Thị Thu Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Thành
2. Bà Nguyễn Thị Thúy Hòa
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Vinh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Hiển - Kiểm sát viên
Ngày 21 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê - tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 171/2022/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2022 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2022/QĐXXST – HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị L - sinh năm 1996
Địa chỉ: khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
Chỗ ở hiện nay: Khu G, xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N - sinh năm 1994
Địa chỉ: khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
(Chị L, anh N đều có đơn đề N xin giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1, Tại đơn khởi kiện ngày 18/5/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị L trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 17/7/2017 tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Trước khi kết hôn được tự nguyện tìm hiểu. Sau khi kết hôn chị về chung sống cùng anh N và bố mẹ anh N tại khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vã nhau, anh N đã súc phạm chị nhiều lần dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mặt khác một phần cũng do hai vợ chồng chung sống với nhau nhiều năm nhưng không có con nên chung sống không có hạnh phúc. Từ đầu năm 2022 chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ chị ở, vợ chồng ly thân từ đó đến nay không ai quan tâm đến ai. Mâu thuẫn của vợ chồng mặc dù được gia đình hai bên hoà giải, khuyên bảo nhưng không có kết quả. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh N, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên chị đề N Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh N để ổn định cuộc sống.
Về con chung; Về tài sản chung; Nghĩa vụ chung về tài sản; Công sức: Chị L xác nhận không có nên không yêu cầu giải quyết.
2, Tại bản tự khai ngày 03/6/2022 và trong quá trình giải quyết, bị đơn anh Nguyễn Văn N trình bày: Về quan hệ hôn nhân, về thời gian kết hôn, điều kiện kết hôn, quá trình chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng đúng như chị L trình bày. Sau khi kết hôn chị L về chung sống cùng anh và gia đình anh tại khu G, xã T, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ đến năm 2019 thì vợ chồng đi ra ngoài làm lao động tự do. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không bảo ban được nhau trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong công việc nên dẫn đến việc vợ chồng cãi vã chửi mắng nhau. Từ đầu năm 2022 đến nay vợ chồng mỗi người một nơi không còn chung sống cùng nhau, không quan tâm đến nhau và ly thân từ đó. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình khuyên giải nhưng không được. Nay chị L xin ly hôn anh không muốn ly hôn vì muốn vợ chồng quay về đoàn tụ chung sống cùng nhau. Nếu chị L kiên quyết xin ly hôn thì anh đề N Tòa án cho anh thêm thời hạn 20 ngày kể từ ngày 03/6/2022 để anh động viên chị L quay về đoàn tụ. Nếu hết thời hạn 20 ngày mà anh không động viên được chị L quay về thì anh nhất trí ly hôn với chị L.
Về con chung; Về tài sản chung; Nghĩa vụ chung về tài sản; Công sức: Anh N xác nhận không có nên không yêu cầu giải quyết.
3, T¹i biên bản lấy lời khai ngµy 23/6/2022 ông Nguyễn Văn Đ ( bố ®Î anh N) tr×nh bµy: Chị L và anh N được tự nguyện kết hôn, sau khi kết hôn chị L về chung sống cùng anh N và vợ chồng ông. Quá trình chung sống anh chị hòa thuận hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh chị tự mâu thuẫn với nhau về ý ăn ý ở trong cuộc sống vợ chồng. Từ đầu năm 2022 đến nay chị L đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ chị ở, từ đó không quay về chung sống cùng anh N và vợ chồng ông nữa. Khi anh chị mâu thuẫn gia đình ông đã khuyên giải nhiều lần nhưng không được. Anh chị mỗi người ở một nơi không còn ai quan tâm đến ai. Từ ngày 03/6/2022 đến nay anh chị vẫn chưa có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng, ông cũng không nói được, chị L không quay về chung sống cùng anh N. Anh chị không có con chung, tài sản chung và nợ chung. Nay chị L xin ly hôn ông đề N Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật vì việc ly hôn là do anh chị tự quyết định.
4, Qua x¸c minh t¹i ñy ban nh©n d©n x· Tam Sơn ngµy 23/6/2022 được đại diện chính quyền địa phương cung cấp: Chị L và anh N tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 17/7/2017 tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn chị L chung sống cùng anh N tại nhà bố mẹ anh N. Anh chị chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh chị mâu thuẫn với nhau trong cuộc sống vợ chồng. Chị L đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ chị ở từ đó đến nay không quay lại chung sống cùng anh N nữa. Anh chị mỗi người ở một nơi, không ai quan tâm đến ai. Nay chị L xin ly hôn anh N đề N Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
T¹i phiªn toµ kiÓm s¸t viªn ph¸t biÓu ý kiÕn vÒ viÖc tu©n theo ph¸p luËt trong qu¸ tr×nh gi¶i quyÕt vô ¸n cña ThÈm ph¸n, H§XX vµ viÖc chÊp hµnh ph¸p luËt cña ngưêi tham gia tè tông d©n sù, tõ khi thô lý vô ¸n cho ®Õn trưíc thêi ®iÓm H§XX nghÞ ¸n ®Òu thùc hiÖn ®óng theo quy ®Þnh ph¸p luËt kh«ng cã vi ph¹m g× vµ ph¸t biÓu ý kiÕn vÒ quan ®iÓm gi¶i quyÕt vô ¸n. Đề N HĐXX áp dụng khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, Điều 227, khoản 1 điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của N quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn N.
Về con chung; Về tài sản chung; Nghĩa vụ chung về tài sản; Công sức: Chị L, anh N xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Chị Lê Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) ¸n phÝ ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng dân sự:
. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1, điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn anh N có hộ khẩu thường trú tại khu G, xã T, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ điểm a, khoản 1, điều 35; điểm a, khoản 1, điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
. Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Chị L, anh N đều có đơn xin được giải quyết xét xử vắng mặt. C¨n cø khoản 1, ®iÒu 227; khoản 1 điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn Cẩm Khê tiÕn hµnh xÐt xö v¾ng mÆt các đương sự.
. Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được xem xét tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận thấy:
. Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị L và anh N là hoàn toàn hợp pháp được UBND xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ cho ®¨ng ký kÕt h«n ngµy 17/7/2017 nhưng thùc sù t×nh c¶m vî chång gi÷a anh chÞ ®· cã vÕt r¹n nøt, chÞ L cho rằng sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vã nhau, anh N đã súc phạm chị nhiều lần dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mặt khác một phần cũng do hai vợ chồng chung sống với nhau nhiều năm nhưng không có con nên chung sống không có hạnh phúc. Từ đầu năm 2022 chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ chị ở, vợ chồng ly thân từ đó đến nay không ai quan tâm đến ai. Mâu thuẫn của vợ chồng mặc dù được gia đình hai bên hoà giải, khuyên bảo nhưng không có kết quả. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh N, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên chị đề N Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh N để ổn định cuộc sống. Phía anh N thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không bảo ban được nhau trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong công việc nên dẫn đến việc vợ chồng cãi vã chửi mắng nhau. Từ đầu năm 2022 đến nay vợ chồng mỗi người một nơi không còn chung sống cùng nhau, không quan tâm đến nhau và ly thân từ đó. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình khuyên giải nhưng không được. Ông Nguyễn Văn Đ ( bố ®Î anh N ) cũng xác nhận từ đầu năm 2022 đến nay chị L đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ chị ở, từ đó không quay về chung sống cùng anh N và vợ chồng ông nữa. Khi anh chị mâu thuẫn gia đình ông đã khuyên giải nhiều lần nhưng không được. Anh chị mỗi người ở một nơi không còn ai quan tâm đến ai, sau khi làm việc với tại Tòa án đến nay anh chị vẫn chưa có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng, ông cũng không nói được, chị L không quay về chung sống cùng anh N. Ngày 23/6/2022 Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê đã tiến hành xác minh về quan hệ hôn nhân của chị L và anh N được đại diện chính quyền địa phương cung cấp sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, chị L đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ chị ở từ đó đến nay không quay lại chung sống cùng anh N nữa. Anh chị mối người ở một nơi, không ai quan tâm đến ai. XÐt thÊy cuéc h«n nh©n gi÷a chị L và anh N đã m©u thuÉn rÊt trÇm träng, ®êi sèng chung kh«ng thÓ kÐo dµi, môc ®Ých h«n nh©n kh«ng ®¹t ® îc, nÕu kÐo dµi chØ g©y ®au khæ cho c¶ hai bªn, lµm cho anh chÞ sèng kh«ng ®em l¹i h¹nh phóc, kh«ng cßn t×nh yªu thư¬ng. V× vËy cÇn xö cho chÞ L được ly h«n anh N lµ phï hîp víi ®iÒu 56 LuËt h«n nh©n vµ gia ®×nh.
Về con chung; Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản; công sức: Chị L, anh N xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết nªn Hội đồng xét xử kh«ng xem xÐt.
. Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, kho¶n 4 ®iÒu 147, khoản 1, Điều 227, khoản 1 điều 228, Điều 238 Bé luËt tè tông d©n sù; điểm a khoản 5 Điều 27 của N quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn N.
[2]. Về con chung; Về tài sản chung; Nghĩa vụ chung về tài sản; Công sức: Chị L, anh N xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết nªn Hội đồng xét xử kh«ng xem xÐt.
[3]. Về án phí: Chị Lê Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) ¸n phÝ ly hôn sơ thẩm. X¸c nhËn chị L ®· nép 300.000 ®ång tiÒn t¹m øng ¸n phÝ theo biªn lai sè AA/2020/0007675 ngày 19/5/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm khê, tỉnh Phú Thọ.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự (v¾ng mÆt) cã quyÒn kh¸ng c¸o trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy nhËn b¶n ¸n hoÆc ®ưîc niªm yÕt b¶n ¸n ®Ó ®Ò nghÞ Toµ ¸n nh©n d©n tØnh Phó Thä xÐt xö theo tr×nh tù phóc thÈm./.
| Nơi nhận: THẨM - VKSND huyện; - Các đương sự - UBND xã T; - Thi hành án dân sự; - Lưu HS+ VP; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đinh Thị Thu Huyền |