- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Kim Thị Sô P.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH TRÀ VINH Bản án số: 56/2022/HNGĐ-ST Ngày 25/8/2022. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lý Thanh Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Văn Mên.
Ông Nguyễn Trung Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Chung Hữu Toàn, là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tấn An– Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 327/2022/TLST- HNGĐ, ngày 17/6/2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2022/QĐXXST-HN, ngày 27/7/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 51/2022/QĐST-HN, ngày 10/8/2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Kim Thị Sô P, sinh năm 1983. Địa chỉ: Ấp G, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Có mặt.
Bị đơn: Anh Thạch S, sinh năm 1979. Hộ khẩu thường trú: Ấp G, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/6/2022 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Kim Thị Sô P trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh S xác lập hôn nhân và có đăng ký kết hôn vào ngày 16/3/2006 tại UBND xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vợ chồng cùng đi đăng ký kết hôn. Khi tiến đến hôn nhân, chị và anh S do mai mối và đồng ý tiến hành lễ cưới theo phong tục tập quán. Nữ trang ngày cưới đã bán hết không còn. Sau ngày cưới, anh S ở rể đến năm 2013 thì cất nhà ở riêng, sống đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn về lối sống và ứng xử giao tiếp, anh S nhậu rượu thường xuyên, mỗi lần đi nhậu về là kiếm chuyện chửi và xúc phạm gia đình chị rất nhiều lần, anh còn đập phá đồ đạt trong nhà, đánh chị và đốt nhà…nên không thể nào sống được, chị bỏ nhà đi làm thuê tại Công ty gỗ ở tỉnh Bình Dương, còn anh ở nhà đi làm hồ, nhưng không liên lạc với nhau, chấm dứt mọi liên lạc, vợ chồng ly thân tính đến nay hơn 08 năm, tình cảm không còn. Nay chị yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn với anh Thạch S.
- Về nuôi con tên: Thạch Minh K, sinh ngày 18/11/2009, con đang sống với chị. Chị xin được quyền nuôi dưỡng con khi ly hôn.
- Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung vợ chồng và số nợ phải thu, phải trả: Chị không tranh chấp, không khởi kiện. Ngoài ra chị không yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa lần thứ 02, bị đơn anh Thạch S vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.
Tại phiên tòa Thạch Minh K, sinh ngày 18/11/2009 trình bày: Trường hợp cha mẹ ly hôn, nguyện vọng của con xin được sống với mẹ.
Lời phát biểu của Kiểm sát viên.
- Về việc tuân theo pháp luật: Thủ tục thụ lý hồ sơ vụ án, xác định quan hệ pháp luật, xác định người tham gia tố tụng, thành phần tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thành phần Hội đồng xét xử đều đúng quy định pháp luật. Các văn bản tố tụng từ khi nhận đơn khởi kiện đến khi Quyết định đưa vụ án ra xét xử đều tống đạt đầy đủ. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị P, xử cho chị P được ly hôn với anh S, giao con tên Thạch Minh K, sinh ngày 18/11/2009 cho chị P được quyền nuôi dưỡng khi ly hôn. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung vợ chồng và số nợ phải thu, phải trả do các đương sự không tranh chấp, không khởi kiện nên không xem xét giải quyết. Buộc chị P nộp 300.000 đồng án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1]. Về thủ tục tố tụng: Xét thấy anh Thạch S là bị đơn trong vụ án, tại phiên tòa lần thứ hai, anh S vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Xét thấy chị P làm đơn khởi kiện anh S yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn với anh S, chị xin được quyền nuôi dưỡng con khi ly hôn, ngoài ra không yêu cầu gì khác. Căn cứ khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật giải quyết là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết Tòa án.
. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn:
- Về hôn nhân: Xét thấy chị Kim Thị Sô P và anh Thạch S xác lập hôn nhân và có đăng ký kết hôn vào ngày 16/3/2006 tại UBND xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vợ chồng cùng đi đăng ký kết hôn. Từ đó xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng:
Chị Kim Thị Sô P khai: Sau ngày cưới, anh S ở rể đến năm 2013 thì cất nhà ở riêng, sống đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn về lối sống và ứng xử giao tiếp, anh S nhậu rượu thường xuyên, mỗi lần đi nhậu về là kiếm chuyện chửi và xúc phạm gia đình chị rất nhiều lần, anh còn đập phá đồ đạt trong nhà, đánh chị và đốt nhà…nên không thể nào sống được, chị bỏ nhà đi đến tỉnh Bình Dương làm thuê tại Công ty gỗ, còn anh ở nhà đi làm hồ, nhưng không liên lạc với nhau, vợ chồng chấm dứt mọi liên lạc, đã ly thân tính hơn 08 năm, tình cảm không còn. Nay chị yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn với anh Thạch S.
Đối với anh Thạch S, Tòa án giao thông báo thụ lý vụ án và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho ông Thạch Cheo là cha ruột của anh S (sống chung gia đình) nhận, đồng thời liên lạc qua số điện thoại thông báo cho anh S biết để tham gia tố tụng thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, tuy nhiên tại các phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải anh S đều vắng mặt không lý do nên phiên hòa giải đoàn tụ không tiến hành được, hôm nay tại phiên tòa lần thứ 02, anh S tiếp tục vắng mặt và anh cũng không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án biết về quan hệ hôn nhân mà chị P khởi kiện, còn chị P thì cương quyết xin ly hôn với anh S từ đó cho thấy khả năng hàn gắn đoàn tụ vợ chồng là không có kết quả.
Xét thấy mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa chị P và anh S xảy ra từ năm 2014 đến nay anh chị đều bỏ mặt, mạnh ai nấy sống, không quan tâm đến tình nghĩa vợ chồng, đã ly thân nhau hơn 08 năm, chị P xác định tình cảm vợ chồng không còn và cương quyết ly hôn không chung sống với anh S, từ đó làm cho mâu thuẫn tình cảm vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị P, xử cho chị P được ly hôn với anh S là đúng quy định của pháp luật.
- Về nuôi con: Xét thấy chị P và anh S chung sống sinh 01 người con tên Thạch Minh K, sinh ngày 18/11/2009. Trong thời gian 08 năm qua, con sống với chị P và được chị nuôi dưỡng chăm sóc chu đáo về mọi mặt, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị P xin được quyền nuôi dưỡng con khi ly hôn là phù hợp với nguyện vọng của con xin được sống với mẹ, còn anh S thì vắng mặt không lý do và anh cũng không gửi ý kiến bằng văn cho Tòa án biết về quyền chăm sóc nuôi dưỡng con khi ly hôn, từ đó cho thấy anh S không quan tâm đến quyền nuôi con khi ly hôn.
Để tạo đều kiện cho cháu Khánh có cuộc sống ổn định nhằm phát triển lành mạnh về thể chất và tinh thần. Căn cứ Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao con cho chị P được quyền trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng khi ly hôn là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung vợ chồng và số nợ phải thu, phải trả: Trong quá trình giải quyết vụ án chị P và anh S không tranh chấp, không khởi kiện. Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí hôn nhân: Buộc chị Kim Thị Sô P nộp 300.000 đồng.
. Xét lời của Kiểm sát viên trình bày về trình tự thủ tục tố tụng và hướng giải quyết vụ án nêu trên là phù hợp với quy định pháp luật và được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, các Điều 147, 228; 235, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 53, 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Kim Thị Sô P.
- Về hôn nhân: Xử cho chị Kim Thị Sô P được ly hôn với anh Thạch S.
- Về nuôi con:
+ Chị Kim Thị Sô P được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con tên Thạch Minh K, sinh ngày 18/11/2009, khi ly hôn.
+ Anh Thạch S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền ngăn cản. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trỡ người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị Kim Thị Sô P nộp 300.000 đồng nhưng được cấn trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà chị P đã nộp theo biên lai thu tiền số 0010894, ngày 16/6/2022 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện C thu. Chị Kim Thị Sô P đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo:
+ Chị Kim Thị Sô P có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
+ Anh Thạch S vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày anh nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện, tỉnh; - Chi Cục THADS huyện; - UBND xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh. - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lý Thanh Lâm |