vanban.org

Bản án 56/2022/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Minh T.

Buộc bà Hồ Thị H và Nguyễn Hoàng P cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Huỳnh Thị Minh T số tiền vay là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), hình thức trả hàng tháng 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng), thực hiện lần đầu khi án có hiệu lực. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Minh T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 463 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2022/DSST
Ngày:05/7/2022
V/v: Tranh chấp dân sự Hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Lắm.

- Các Hội thẩm nhân dân :

1. Ông Lê Thanh Duy

2. Ông Thạch Tân Dân

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Trân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệnTân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang Không tham gia phiên tòa

- Trong ngày 05 tháng 7 năm 2022 Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 43/2022/TLST-DS ngày 29 tháng 4 năm 2022 v/v “Tranh chấp dân sự Hợp đồng vay tài sản”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2022/QĐXXST- DS ngày 10 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Huỳnh Thị Minh T, sinh năm 1969 (có mặt);

Địa chỉ: ấp Q, xã Z, huyện X, tỉnh Tiền Giang

- Bị đơn: Hồ Thị H (tên gọi khác V), sinh năm 1974 (có mặt);

Địa chỉ: ấp F, xã Z, huyện X, tỉnh Tiền Giang.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Hoàng P, sinh năm 1973 (có mặt)

Địa chỉ: ấp F, xã Z, huyện X, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

*Quá trình tố tụng và tại phiên tòa Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Minh T trình bày:

Vào ngày 15/7/2020 âm lịch Bà T có cho bà Hồ Thị H (tên gọi khác là Gái) mượn số tiền là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), có hứa trong vòng một tháng sẽ trả lại số tiền nói trên, nhưng đến nay bà H vẫn chưa trả số tiền. Nay bà T khởi kiện yêu cầu bà H trả số tiền là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra bà T không có yêu cầu gì khác.

* Quá trình tố tụng và tại phiên tòa Bị đơn bà Hồ Thị H trình bày:

Đối với yêu cầu khởi kiện của bà T, bà H đồng ý trả số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) cho bà T. Tuy nhiên, do hoàn cảnh hiện tại khó khắn nên bà H xin được trả dần số tiền này mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi hết nợ.

* Quá trình tố tụng và tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hoàng P trình bày:

Đối với yêu cầu khởi kiện của bà T, ông P xác định vợ chồng có vay 100.000.000đ của bà T, nay anh đồng ý cùng có trách nhiệm với bà H trả số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) cho bà T. Tuy nhiên, do hoàn cảnh hiện tại khó khắn nên ông P xin được trả dần số tiền này mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi hết nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: bà Huỳnh Thị Minh T yêu cầu bà H trả tiền vay mà bà H còn thiếu, bà H xác định còn nợ tiền của Bà T. Do đó, xác định quan hệ tranh chấp « Hợp đồng vay tài sản » được quy định tại Điều 26, Điều 35, Diều 39 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Minh T: Bà T yêu cầu bà Hồ Thị H trả số tiền nợ là 100.000.000 đồng. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện bà T đã giao nộp bản chính giấy mượn tiền (không ghi ngày tháng năm). Bà H cũng thống nhất có mượn tiền của bà T theo giấy nợ đã có ký tên bà Hoa và ông P. Tại phiên tòa, bà H, ông P cùng xác nhận có vay và hiện còn nợ bà T 100.000.000đ. như vậy, theo các tài liệu, chứng cứ và lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử xác định giao dịch vay tiền giữa bà T và vợ chồng bà H, ông P là có thật, bà H, ông P không thực hiện nghĩa vụ của mình như đã thỏa thuận là vi phạm, nên bà T yêu cầu trả số tiền 100.000.000 đồng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về thời hạn thực hiện nghĩa vụ: tại phiên tòa, bà T yêu cầu trả hàng tháng là 15.000.000đ, bà H, ông P đề nghị trả dần hàng tháng 1.000.000đ, bà T không đồng ý. Xét đề nghị của bà H, ông P không được bà Tâm chấp nhận và trái quy định pháp luật nên buộc bà H, ông P có nghĩa vụ trả nợ như yêu cầu bà T.

Về lãi suất: Bà Huỳnh Thị Minh T không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Yêu cầu của bà T được chấp nhận hoàn toàn nên bà H, ông P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Minh T.

- Buộc bà Hồ Thị H và Nguyễn Hoàng P cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Huỳnh Thị Minh T số tiền vay là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), hình thức trả hàng tháng 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng), thực hiện lần đầu khi án có hiệu lực.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

* Về án phí: Bà Hồ Thị H và ông Nguyễn Hoàng P phải chịu 5.000.000đ (năm triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí mà bà Huỳnh Thị Minh T đã nộp là 2.500.000 đồng theo biên lai thu số 0008199 ngày 25/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú Đông.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sư; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ