vanban.org

Bản án 56/2022/DS-ST — Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân của chị P T C đối với anh C V N

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án Người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành á… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 56/2022/DS-ST Tuyên án 16/06/2022
Phúc thẩm Bản án 09/2022/HNGĐ-PT Tuyên án 26/09/2022

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân — án hôn nhân và gia đình — "Phan Thị Chiêm - Cao Văn Năm"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân của chị P T C đối với anh C V N
  • Căn cứ chính? Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 463 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MINH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 56/2022/DS-ST
Ngày: 16/6/2022
“V/v yêu cầu chia tài sản chung
của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Minh Toàn

Các Hội thẩm nhân dân:ông Trương Ngọc Nhân; bà Đinh Thị Ngọc Lê

- Thư ký phiên toà: ông Cao Lương Bằng – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa tham gia phiên tòa: bà Đinh Thị Thanh Nga – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2022, tại phòng xử án, Toà án nhân dân huyện Minh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 19/2022/TLST – HNGĐ ngày 09/02/2022 về việc “yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2022/QĐXXST- DS ngày 01/6/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị P T C – sinh năm 1993

Địa chỉ: thôn 1 K B, xã M H, huyện M H, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

Bị đơn: anh C V N - sinh năm 1993

Địa chỉ: bản H L, xã H S, huyện M H, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Phòng giao dịch ngân hàng chính sách xã hội huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình

Người được ủy quyền: ông N T T – Phó giám đốc

Địa chỉ: TDP 1, thị trấn Q Đ, huyện M H, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong khởi kiện ngày 28/12/2021 và bản tự khai ngày 09/3/2022 và tại phiên tòa, nguyên đơn chị P T C trình bày: chị kết hôn với anh C V N năm 2013 và đã ly hôn vào tháng 10/2019. Trong thời gian chung sống chị và anh C V N có vay chung số tiền 50.000.000 đồng vào ngày 18/3/2018 của ngân hàng chính sách xã hội huyện Minh Hóa, chị là người trực tiếp làm khế vay. Khi giải ngân thì chị sử dụng vốn vay và gửi cho anh C V N đi học, khi anh N làm đơn ly hôn không kê khai khoản vay nay chị đề nghị Tòa án giải quyết phân chia khoản vay là 50.000.000 đồng.

Bị đơn anh C V N trình bày: chị P T C yêu cầu Tòa án giải quyết khoản vay tại ngân hàng chính sách xã hội huyện Minh Hóa anh không biết khoản vay này. Chị C tự ý làm hồ sơ anh không ký vào hồ sơ vay, không có sự bàn bạc gì và anh cũng không sử dụng khoản vay trên. Thời gian chị Chiêm vay anh đang đi học tại trường Quân sự quân khu 4 nên anh không nhất trí trả khoản vay này.

Đại diện của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ngân hàng chính sách xã hội huyện Minh Hóa, ông N T T trình bày: ngày 18/3/2018, chị Đ T C và anh C V N vay tại ngân hàng chính sách xã hội huyện Minh Hóa số tiền 50.000.000 đồng theo chương trình hộ nghèo, lãi suất 0,55%/tháng, lãi đến tháng 3/2022 chưa trả là 1.120.000 đồng. Hồ sơ vay có đầy đủ tên và chữ ký của chị C và anh N. Nay đề nghị Tòa án giải quyết buộc chị C và anh N trả nợ cho ngân hàng tổng số tiền là 51.120.000 đồng và lãi phát sinh.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng các đương sự không thỏa thuận được, chị P T C yêu cầu phân chia khoản nợ vay và không yêu cầu giám định chữ ký của anh N. Anh C V N không thừa nhận khoản vay dùng cho gia đình.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa phát biểu đối với Thẩm phán và Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử thực hiện đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 33, 37 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự: không chấp nhận yêu cầu của chị P T C về phân chia khoản nợ vay, buộc chị P T C có nghĩa vụ trả nợ vay ngân hàng chính sách xã hội huyện Minh Hóa số tiền gốc và lãi là 51.120.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Chị P T C và anh C V N kết hôn năm 2013 và ly hôn năm 2019. Trong quá trình chung sống năm 2018 chị P T C có vay tại ngân hàng chính sách xã hội huyện Minh Hóa ngày 18/3/2018 số tiền 50.000.000 đồng, thời hạn trả cuối cùng là 18/3/2023 với lãi suất 0,55%/tháng theo chương trình hộ nghèo.

. Hội đồng xét xử xét thấy hồ sơ vay vốn thực hiện năm 2018 trong thời kỳ hôn nhân, vì vậy nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận, bàn bạc nhưng khi chị P T C vay không có sự thống nhất thỏa thuận thể hiện anh C V N không ký vào hồ sơ vay, anh N không thừa nhận chữ ký trên hồ sơ vay vốn và chị P T C không yêu cầu giám định chữ ký.

Vì vậy yêu cầu của ngân hàng chính sách xã hội huyện Minh Hóa về khoản vay của chị P T C trong thời kỳ hôn nhân là có cơ sở.

Tuy nhiên xác định giao dịch về hồ sơ vay và khi giải ngân, sử dụng vốn vay do chị P T C trực tiếp thực hiện không được sự đồng ý của anh C V N nên chị P T C phải có nghĩa vụ trả nợ vay và lãi phát sinh theo khế vay ngày 18/3/2018.

Căn cứ vào các Điều 33, 37 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015 buộc chị P T C có nghĩa vụ trả nợ ngân hàng chính sách xã hội huyện Minh Hóa số tiền 51.120.000 đồng theo khế vay ngày 18/3/2018 và lãi cho đến ngày 16/6/2022 là 898.000 đồng.

Án phí: chị P T C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân của chị P T C đối với anh C V N

Căn cứ vào các Điều 33, 37 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tuyên xử: giao cho chị P T C có nghĩa vụ trả nợ vay cho ngân hàng chính sách xã hội huyện Minh Hóa số tiền 52.018.000 đồng, trong đó tiền gốc là 50.000.000 đồng, lãi đến ngày 09/6/2022 là 2.018.000 đồng theo khế vay ngày 18/3/2018 và lãi phát sinh theo khế vay đến khi trả hết nợ vay.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án

Người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự.

2. Án phí: chị P T C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, chị C đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai số 0000562 ngày 09/02/2022 tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Minh Hóa nay được khấu trừ

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Tuyên bố các bên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16/6/2022).

Cỡ chữ