- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự đối với bị cáo Đinh Văn L - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Tòa quyết gì? Buộc bị cáo Đinh Văn L phải chấp hành hình phạt chung của bản án là 48 (Bốn mươi tám) tháng tù về các tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy” được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 02/6/2021 đến ngày 11/6/2021.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 55 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2021/HS-ST Ngày 29-10-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ - TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Hằng Nga
2. Ông Thái Quang Thọ
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trần Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Phan Tường Linh - Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
Ngày 29 tháng 10 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2021/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:
Đinh Văn L - sinh ngày 24 tháng 9 năm 1982 tại thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Khu 6, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh Hồng S - sinh năm 1942 và bà Dương Thị C - sinh năm 1952; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thu H - sinh năm 1988 (đã ly hôn) và 01 con, sinh năm 2012; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 02/6/2021 đến ngày 11/6/2021 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Đặng Trần G, sinh năm 1978
Trú tại: Khu Q, phường A, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt)
2. Anh Đinh Văn N - sinh năm 1984
Trú tại: Khu 6, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 02/6/2021, tại khu vực gác ghi đường sắt thuộc khu N, xã H, thị xã P, tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế ma túy Công an thị xã P phát hiện và bắt quả tang Đinh Văn L đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 19S1-031.62 đi từ trung tâm thị xã P về phía xã H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Khi tiến hành kiểm tra, L nhả từ trong miệng mình ra 01 gói nilon màu trắng giao nộp cho tổ công tác. Ngay tại nơi kiểm tra, trước sự chứng kiến của mọi người tổ công tác mở gói nilon đó ra kiểm tra thấy bên trong có 03 gói giấy mặt ngoài đều màu vàng, mặt trong đều màu trắng, bên trong cả 03 gói giấy đều có chứa chất bột, cục màu trắng. L đã khai nhận 03 gói giấy nêu trên là ma túy Heroine cất giữ với mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã gói lại 03 gói chất bột, cục màu trắng và làm thủ tục niêm phong theo quy định của pháp luật. Đồng thời tạm giữ của L: 01 điện thoại di động nhãn hiệu XIAOMI màu vàng, đã qua sử dụng, số IMEI: 868616034342067, có gắn sim số 0359063928 và 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ, đã qua sử dụng, biển kiểm soát 19S1-031.62.
Quá trình điều tra, L khai nhận: Khoảng 21 giờ ngày 28/5/2021, sau khi mua được 03 gói ma túy heroin, Đinh Văn L lấy 01 gói ma túy rồi sử dụng một mình tại khu vực Sân bay thị xã P. Cùng lúc đó, Đặng Trần G dùng số điện thoại 0862766364 gọi đến số điện thoại 0359063928 của Đinh Văn L, hỏi mua 100.000 đồng ma túy để sử dụng. Do đang có sẵn 02 gói ma túy nên L đồng ý và hẹn Giáp đến khu vực cổng Tiểu đoàn 39 thuộc khu dân cư Q, phường A, thị xã P để bán ma túy cho G. Tại điểm hẹn, G đưa cho L 100.000 đồng; L cầm tiền và đưa lại cho G 01 gói ma túy heroin. G cầm gói ma túy đến bãi đất trống thuộc khu vực Sân bay thị xã P và sử dụng hết. Gói ma túy còn lại, L sử dụng hết tại nhà vào sáng ngày hôm sau. Căn cứ lời khai của Đinh Văn L, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã P đã triệu tập Đặng Trần G đến để làm việc, đồng thời tạm giữ của Giáp 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 353689087468297, có gắn thẻ sim số 0862766364. Tại cơ quan điều tra, G đã khai nhận toàn bộ hành vi mua ma tuý của L như L đã khai. Sau khi mua được số ma túy trên, G đã sử dụng hết cho bản thân.
Ngày 03/6/2021, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã P đã thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đinh Văn L tại khu 6, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Quá trình khám xét không phát hiện và thu giữ gì.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã ra Quyết định trưng cầu giám định chất bột, cục màu trắng thu giữ của L. Tại Kết luận giám định số 696/KLGĐ ngày 07/6/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ kết luận: “Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 03 gói giấy gửi giám định là ma túy, loại heroin, có tổng khối lượng là: 0,168 gam.
Heroin là chất ma túy nằm trong Danh mục I, số thứ tự 09, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Hoàn lại đối tượng giám định: 0,086 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong, dán kín trong bì giấy có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Phú Thọ và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán”.
Về nguồn gốc số ma tuý trên, L khai nhận như sau: Do bản thân nghiện ma túy Heroine nên Đinh Văn L có quen biết với một người đàn ông, L không biết tên địa chỉ cụ thể của người đàn ông đó ở đâu mà chỉ nghe anh ta nói nhà ở xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. L chỉ liên lạc với người đàn ông qua số điện thoại 0399472861. Quá trình điều tra xác minh xác định số điện thoại trên được đăng ký chủ thuê bao là bà Nguyễn Thị Kim V, sinh năm: 1952, trú tại: khu phố 1, phường 8, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 21/6/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Thị xã P đã ủy thác cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận 05 tiến hành xác minh nhân thân và ghi lời khai của bà V; Tuy nhiên thực tế bà V không sinh sống tại địa chỉ trên, chính quyền không xác định được bà V hiện ở đâu, làm gì. Đến nay, Cơ quan Cảnh sát điều tra không đủ căn cứ chứng minh bà Vân đã dùng số thuê bao 0399472861 để giao dịch bán ma túy cho Đinh Văn L.
Ngày 10/6/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can Đinh Văn L về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự và tội: Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Đinh Văn L khai nhận: Bị cáo và G là bạn bè xã hội, cùng là người nghiện ma túy, không có mâu thuẫn gì. Bị cáo thừa nhận nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng. Sau khi bị bắt về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân ngày 02/6/2021, bị cáo đã tự khai ra hành vi bán trái phép 01 gói ma túy heroin cho anh G với giá 100.000 đồng vào tối ngày 28/5/2021. Nguồn gốc số ma túy trên bị cáo mua của người đàn ông nhưng bị cáo không biết tên địa chỉ cụ thể, cũng không có tài liệu chứng cứ chứng minh việc mua bán này và không ai biết việc mua bán đó. Bị cáo bị thu giữ: 03 gói ma túy heroin; 01 điện thoại di động nhãn hiệu XIAOMI màu vàng, có gắn sim số 0359063928 là điện thoại dùng trao đổi mua bán ma túy với Giáp; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ, biển kiểm soát 19S1-031.62 là xe của anh Đinh Văn N, là chú của bị cáo, đã cho bị cáo mượn xe để đi lại, việc bị cáo dùng chiếc xe trên để đi mua ma túy anh N không biết. Bị cáo lao động tự do, thu nhập thấp, sống cùng bố mẹ không có tài sản gì.
Bản cáo trạng số 57/CT-VKSTXPT ngày 04/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã P truy tố bị can Đinh Văn L về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 điều 251 của Bộ luật hình sự và tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã P giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố không có lời tranh luận và bào chữa nào khác. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn L phạm các tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 điều 251; điểm r, s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 30 tháng tù đến 33 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 18 tháng tù đến 21 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 điều 55; điều 38 của Bộ luật hình sự: Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của bản án là từ 48 tháng tù đến 54 tháng tù về các tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy” được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 02/6/2021 đến ngày 11/6/2021. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng và đồ vật, tài sản tại giữ: Áp dụng khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu: của bị cáo Đinh Văn L 01 bì niêm phong số 696/KLGĐ ngày 07/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ bên trong có 0,086 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong dán kín trong 01 bì giấy có đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ và chữ ký của các thành phần có liên quan và 01 thẻ sim số 0359063928; của anh Đặng Trần G 01 thẻ sim số 0862766364 để tiêu hủy;
Tịch thu: của bị cáo Đinh Văn L 01 điện thoại di động nhãn hiệu XIAOMI màu vàng, đã qua sử dụng, số IMEI: 868616034342067; của anh Đặng Trần G 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 353689087468297 để bán nộp ngân sách nhà nước;
Xác nhận ngày 23/8/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã trả lại cho anh Đinh Văn N 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ, đã qua sử dụng, biển kiểm soát 19S1-031.62 là hợp pháp.
Truy thu của bị cáo số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ân hận về hành vi mà bị cáo đã phạm, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đinh Văn L đã khai nhận: Khoảng 21 giờ ngày 28/5/2021, tại khu vực cổng Tiểu đoàn 39 thuộc khu Q, phường A, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Đinh Văn L thực hiện hành vi bán 01 gói ma túy heroin cho Đặng Trần G với giá 100.000 đồng, G đã sử dụng hết gói ma túy nên không xác định được khối lượng ma túy L bán. Đến 21 giờ ngày 02/6/2021, tại khu vực gác ghi chắn tầu thuộc khu N, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, Đinh Văn L tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ 0,168 gam ma túy heroin mục đích sử dụng bản thân, thì bị Tổ công tác Công an thị xã P phát hiện bắt quả tang. Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, kết luận trưng cầu giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ pháp lý kết luận: Bị cáo Đinh Văn L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 điều 251 của Bộ luật hình sự và tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã P truy tố bị cáo về tội danh cũng như điều luật là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Đối với Đặng Trần G là người mua ma túy của L và đã sử dụng hết số ma túy này. Ngày 06/7/2021, Công an thị xã Phú Thọ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với G, hình thức phạt tiền, với số tiền 500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho L, quá trình điều tra L chỉ biết nhà ở xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ mà không biết tên địa chỉ cụ thể ở đâu. Kết quả điều tra xác định số điện thoại 0399472861 được đăng ký chủ thuê bao là bà Nguyễn Thị Kim V, sinh năm: 1952, trú tại: khu phố 1, phường 8, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 21/6/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Thị xã P đã ủy thác cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận 05 tiến hành xác minh nhân thân và ghi lời khai của bà V; Tuy nhiên thực tế bà V không sinh sống tại địa chỉ trên, chính quyền không xác định được bà V hiện ở đâu, làm gì. Đến nay, Cơ quan Cảnh sát điều tra không đủ căn cứ chứng minh bà Vân đã dùng số thuê bao 0399472861 để giao dịch bán ma túy cho Đinh Văn L là phù hợp.
Tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định: ”Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:…”
Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;…”
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước được pháp luật hình sự bảo vệ nên cần phải được xử lý nghiêm. Bị cáo là người có sức khỏe, có hiểu biết xã hội nhưng bị cáo không chịu lao động, làm ăn lương thiện mà lao vào con đường nghiện ma túy dẫn đến có hành vi phạm tội. Vì vậy, bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi đã gây ra, cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội. Song khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và trong quá trình điều tra bị cáo tự khai nhận ra hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình khi chưa bị phát hiện nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ, người phạm tội tự thú quy định tại điểm r khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự đối với tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Do vậy, đối với bị cáo cần áp dụng điều 55 của Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt chung của bản án. Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng đối với bị cáo cần áp dụng hình phạt như Viện kiểm sát nhân dân thị xã P đề nghị là phù hợp. Mức án đó cũng đủ điều kiện để giáo dục bị cáo sửa chữa được tội lỗi mà bị cáo đã phạm.
. Về hình phạt bổ sung:
Tại khoản 5 điều 249 và khoản 5 điều 251 của Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập thấp, bị cáo sống cùng với bố mẹ không có tài sản gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật.
. Về vật chứng và tài sản, đồ vật tạm giữ:
Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P thu giữ và chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã P gồm:
Đối với 01 bì niêm phong số 696/KLGĐ ngày 07/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu để tiêu hủy;
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu XIAOMI màu vàng, đã qua sử dụng, số IMEI: 868616034342067, có gắn sim số 0359063928 của Đinh Văn L và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 353689087468297, có gắn thẻ sim số 0862766364 của Đặng Trần G đây là phương tiện L và G dùng để liên lạc trao đổi mua bán ma túy trong ngày 28/5/2021 nên cần tịch thu bán nộp ngân sách nhà nước 02 chiếc điện thoại trên còn 02 thẻ sim không có giá trị sử dụng nên tịch thu để tiêu hủy.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ, đã qua sử dụng, biển kiểm soát 19S1-031.62, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã tạm giữ của Đinh Văn L. Quá trình điều tra xác định: Chiếc xe mô tô trên là tài sản của anh Đinh Văn N là chú của bị cáo L, đã cho L mượn xe để đi lại. Việc L dùng chiếc xe trên để đi mua ma túy anh N không hề biết. Ngày 23/8/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã trả lại chiếc xe trên cho anh Đinh Văn N là hợp pháp cần xác nhận.
Đối với số tiền 100.000đồng anh Đặng Trần G mua ma túy của bị cáo. Đây là số tiền do bị cáo phạm tội mà có nên cần truy thu để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
.Về án phí: Bị cáo Đinh Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 điều 251; điểm r, s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; phạt Đinh Văn L 30 (Ba mươi) tháng tù.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; phạt Đinh Văn L 18 (Mười tám) tháng tù.
Căn cứ vào khoản 1 điều 55; khoản 1 điều 38 của Bộ luật hình sự;
Buộc bị cáo Đinh Văn L phải chấp hành hình phạt chung của bản án là 48 (Bốn mươi tám) tháng tù về các tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy” được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 02/6/2021 đến ngày 11/6/2021. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng và đồ vật, tài sản tạm giữ: Áp dụng khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu: của bị cáo Đinh Văn L 01 bì niêm phong số 696/KLGĐ ngày 07/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ bên trong có 0,086 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong dán kín trong 01 bì giấy có đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ và chữ ký của các thành phần có liên quan và 01 thẻ sim số 0359063928; của anh Đặng Trần G 01 thẻ sim số 0862766364 để tiêu hủy;
Tịch thu: của bị cáo Đinh Văn L 01 điện thoại di động nhãn hiệu XIAOMI màu vàng, đã qua sử dụng, số IMEI: 868616034342067; của anh Đặng Trần G 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 353689087468297 để bán nộp ngân sách nhà nước;
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã P, tỉnh Phú Thọ ngày 05/10/2021).
Xác nhận ngày 23/8/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã trả lại cho anh Đinh Văn N 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ, đã qua sử dụng, biển kiểm soát 19S1 - 031.62 là hợp pháp;
Truy thu của bị cáo Đinh Văn L số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Đinh Văn L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày giao hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: -VKSND thị xã, tỉnh; -Công an thị xã; -Sở tư pháp; -Bị cáo; Người CQLNVLQ; -Thi hành án hình sự; -Chi cục Thi hành án dân sự thị xã; -L hồ sơ (2 bản); - L văn phòng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thu Hiền |