vanban.org

Bản án 56/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 11, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 16/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo T H H Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo T H H Th 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/3/2021. Tịch thu, tiêu hủy một gói được niêm phong ghi vụ số 1679 (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 55/ĐCSMT ngày 22/4/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo T H H Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2021/HS-ST
Ngày 16/11/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Cơ Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Hương

2. Bà Nguyễn Lê Thu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Vũ – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Ông Đỗ Doãn Đại - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 11 năm 2021 tại Phòng xử án hình sự, trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 43/2021/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2021/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2021/HSST-QĐ ngày 28 tháng 10 năm 2021 và Thông báo dời thời gian mở phiên tòa số 43/2021/TB-TA ngày 05 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

T H H Th (tên gọi khác: Không có); sinh ngày 02/11/1988, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: xx Nguyễn Hữu Cảnh, Phường x, quận xx, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Thợ làm tóc; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông T H Ng và bà H N L, bị cáo có chồng tên là P V T L (đã ly hôn), có một người con sinh năm 2015; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 08/3/2021; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 08/3/2021, Tổ hình sự đặc nhiệm Công an Thành phố Thủ Đức tuần tra trên tuyến đường Phạm Văn Đồng thì phát hiện đối tượng T H H Th điều khiển xe mô tô biển số 60F2-669.84 có biểu hiện nghi vấn nên đã đeo bám qua nhiều tuyến đường của các quận Bình Thạnh - Quận 1 - Quận 3. Khi đến trước số nhà 968 Đường 3/2, Phường 15, Quận 11, Tổ công tác yêu cầu đối tượng dừng xe để kiểm tra hành chính. Do đối tượng T H H Th không xuất trình được giấy đăng ký xe nên được đưa về trụ sở Công an Phường 15 làm việc. Qua kiểm tra bên trong túi đeo chéo trên người của đối tượng Th phát hiện một ví màu đen bên trong có 07 túi nilon chứa chất tinh thể không màu nghi là ma túy nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 giải quyết.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã tiến hành trưng cầu giám định 07 gói nylon chứa chất tinh thể không màu nghi là ma túy thu giữ của bị can T H H Th. Tại Bản kết luận giám định số 1679/KLGĐ-MT ngày 17/3/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định: "Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) đều là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,6772g (không phẩy sáu bảy bảy hai gam), loại Methamphetamine".

Tại Cơ quan điều tra, bị can T H H Th khai nhận: Bản thân bắt đầu sử dụng trái phép ma túy đá từ năm 2020. Vào tối ngày 06/3/2021, bị can Th nhờ một người bạn tên Luân (không rõ lai lịch) mua dùm ma túy với giá 600.000 đồng, việc Luân mua ma túy ở đâu? của ai? thì bị can không biết. Do là bạn bè quen biết ngoài xã hội nên bị can Th không nhớ địa điểm Luân đưa ma túy cho mình, cũng như là lai lịch của đối tượng Luân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đến nay vẫn chưa truy tìm và xác định được lai lịch của đối tượng này.

Công an Phường 15, Quận 11 đã phối hợp với Trạm Y tế Phường 15, Quận 11 tiến hành xét nghiệm chất ma túy qua nước tiểu đối với can T H H Th. Kết quả xét nghiệm ngày 09/3/2021 của Trạm Y tế Phường 15, Quận 11 xác định nước tiểu của bị can T H H Th dương tính với Methamphetamine.

Vật chứng vụ án:

- 01 gói được niêm phong ghi vụ số 1679.

- 01 nắp nhựa màu trắng có gắn ống hút và phễu bằng thủy tinh; 01 kéo bằng kim loại; 01 bật lửa; 01 cân điện tử (là dụng cụ bị can Th sử dụng ma túy).

- 01 ĐTDĐ hiệu OPPO màu đen và tiền Việt Nam 300.000 đồng;

- 01 túi đeo chéo màu xám, 01 bóp nhỏ màu đen (là dụng cụ bị can Th dùng để cất giữ ma túy);

- 01 xe mô tô hiệu Honda, kiểu dáng Wave màu đỏ, biển số 60F2-669.84 do một người bạn ngoài xã hội tên Quang nhờ bị can Th mang xe đưa cho một người bạn của Quang ở khu vực đường Tên Lửa, quận Bình Tân. Kết luận giám định số 1768/KLGĐ-X(Đ4) ngày 02/4/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định số khung, số máy của xe không thay đổi. Tiến hành xác minh xe mô tô biển số 60F2-669.84 là do ông N T S (sinh năm: 1988, nơi cư trú: xx Khu phố x, phường xx, Thành phố Biên Hòa, Đồng Nai) đứng tên chủ sở hữu nhưng đã bị mất trộm vào ngày 08/3/2021 và đang được Đội cảnh sát hình sự Công an Thành phố Biên Hòa, Đồng Nai thụ lý giải quyết. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã bàn giao lại chiếc xe mô tô này cho Đội cảnh sát hình sự Công an Thành phố Biên Hòa, Đồng Nai tiếp tục điều tra, thụ lý theo thẩm quyền.

Tại Bản cáo trạng số 41/CT-VKSQ11 ngày 15/6/2021, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị can T H H Th tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo T H H Th có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra Công an Quận 11 và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; đề nghị xử lý vật chứng như sau: Tịch thu tiêu hủy một gói niêm phong ghi vụ số 1679, một nắp nhựa màu trắng có gắn ống hút và phễu bằng thủy tinh, một kéo bằng kim loại, một bật lửa, một túi đeo chéo màu xám, một bóp nhỏ màu đen, một cân điện tử; trả lại cho bị cáo một điện thoại di động hiệu OPPO màu đen và tiền Việt Nam 300.000 đồng.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vào lúc 19 giờ 00 phút ngày 08/3/2021, tại trước nhà số 968 Đường 3/2, Phường 15, Quận 11, bị cáo T H H Th đã có hành vi cất giữ một ví mày đen bên trong có bảy túi nylon chứa chất tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,6772g (không phẩy sáu bảy bảy hai gam), loại Methamphetamine.

Bị cáo T H H Th khai nhận bản thân nghiện ma túy và cất giữ ma túy để sử dụng. Lời khai này phù hợp với kết quả xét nghiệm chất ma túy qua nước tiểu của bị cáo do Trạm Y tế Phường 15, Quận 11 thực hiện vào ngày 09/3/2021.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, biết rõ ma túy là chất gây nghiện mang tính độc hại cao bị Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển. Song do nghiện ma túy và muốn thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý các chất gây nghiện, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội, chống lại chủ trương bài trừ tệ nạn ma túy của Nhà nước. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị và giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo tàng trữ chất ma túy là loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,6772g (không phẩy sáu bảy bảy hai gam) nên thuộc trường hợp phạm tội quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về xử lý vật chứng:

Đối với vật chứng là một gói được niêm phong ghi vụ số 1679, bên trong có chứa chất ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải tịch thu, tiêu hủy.

Đối với vật chứng là một nắp nhựa màu trắng có gắn ống hút và phễu bằng thủy tinh, một kéo bằng kim loại, một bật lửa, một túi đeo chéo màu xám, một bóp nhỏ màu đen và một một cân điện tử, là dụng cụ bị cáo dùng để sử dụng ma túy và sử dụng vào việc khác nhưng không còn giá trị sử dụng; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải tịch thu, tiêu hủy.

Đối với vật chứng là một điện thoại di động hiệu OPPO màu đen và tiền Việt Nam 300.000 đồng là tài sản cá nhân của bị cáo Th. Bị cáo không sử dụng tài sản trên vào việc phạm tội; căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét giải quyết trả lại cho bị cáo.

Đối với vật chứng là một xe mô tô hiệu Honda, kiểu dáng Wave màu đỏ, biển số 60F2-669.84 do một người bạn ngoài xã hội tên Quang nhờ bị cáo Th mang xe đưa cho một người bạn của Quang ở khu vực đường Tên Lửa, quận Bình Tân. Kết luận giám định số 1768/KLGĐ-X(Đ4) ngày 02/4/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định số khung, số máy của xe không thay đổi. Tiến hành xác minh xe mô tô biển số 60F2-669.84 là do ông N T S (sinh năm: 1988, nơi cư trú: xx Khu phố x, phường xx, Thành phố Biên Hòa, Đồng Nai) đứng tên chủ sở hữu nhưng đã bị mất trộm vào ngày 08/3/2021 và đang được Đội cảnh sát hình sự Công an Thành phố Biên Hòa, Đồng Nai thụ lý giải quyết. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã bàn giao lại chiếc xe mô tô này cho Đội cảnh sát hình sự Công an Thành phố Biên Hòa, Đồng Nai tiếp tục điều tra, thụ lý theo thẩm quyền. Hội đồng xét xử xét thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã xử lý vật chứng đúng quy định của pháp luật nên không giải quyết lại.

Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo T H H Th, điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 được phân công điều tra, kiểm sát giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên. Do đó, có cơ sở để xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

Về xem xét vai trò, trách nhiệm của đối tượng có liên quan trong vụ án:

Đối với đối tượng tên Luân là người đã mua ma túy giúp cho bị cáo Th vào tối ngày 06/3/2021, do không xác định được lai lịch của đối tượng nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm là có căn cứ; khi điều tra, truy xét được sẽ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 50; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo T H H Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo T H H Th 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/3/2021.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu, tiêu hủy một gói được niêm phong ghi vụ số 1679 (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 55/ĐCSMT ngày 22/4/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).

Tịch thu, tiêu hủy một nắp nhựa màu trắng có gắn ống hút và phễu bằng thủy tinh, một kéo bằng kim loại, một bật lửa, một túi đeo chéo màu xám, một bóp nhỏ màu đen và một cân điện tử (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 43/ĐCSMT ngày 11/3/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).

Trả lại cho bị cáo T H H Th một điện thoại di động hiệu OPPO màu đen và tiền Việt Nam 300.000 đồng (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 43/ĐCSMT ngày 11/3/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ