- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Lê Hồng P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lê Hồng P 21 (Hai mươi mốt ) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2021/HS-ST Ngày 29-7-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Văn Quang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngo ̣c Luân, ông Hồ Như Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lườ ng Văn Du ̣c , Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đôn, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 58/2021/TLST-HS ngày 07/7/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 57/2021/QĐXXST-HS ngày 15/7/2021 đối với:
Bị cáo: Lê Hồng P, sinh năm 1990 tại huyện V, tỉnh Hưng Yên; nơi cư trú: Bản H, xã H, thành phố S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao đô ̣ng tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giớ i tinh: Nam; tôn giáo: Không; quốc ti ̣ch:
́
Viê ̣t Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thi ̣ T; bị cáo có vợ là Lò Thị Đi và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/5/2021 đến nay, có mặt.
- Ngườ i có quyền lợi nghia vụ liên quan : Anh Trần Binh T, sinh năm 1988,
̃
̀ trú tại: Bản H, xã H, thành phố S, tỉnh Sơn La, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 00 phút, ngày 10 tháng 5 năm 2021 tại Tiểu khu 6, Thị trấn Yên Châu, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La tổ công tác Công an huyện Thị trấn Yên Châu, huyện Yên Châu phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với: Lê Hồng P - Sinh năm: 1990 - Trú tại: Bản H, xã H, Thành phố S, tỉnh Sơn La đang tàng trữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ: 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine do Lê Hồng P lấy trong túi quần phía trước bên phải giao nộp cho tổ công tác; 01 xe máy nhãn hiệu HONDA- Blade, BKS: 26B2- 382.81, màu sơn xanh đen, xe cũ đã qua sử dụng thu giữ của Lê Hồng P; 01 giấy chứng nhận đăng kí xe mô tô, xe máy số: 058521 mang tên Trần Bình T do Phòng CSGT Công an tỉnh Sơn La cấp ngày 24/01/2019.
Ngày 11 tháng 5 năm 2021 Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La phối hợp với Phòng PC09 Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm P, xác định khối lượng vật chứng thu giữ của Lê Hồng P và trích rút mẫu để giám định: 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng có khối lượng là 0,14 gam; trích ra 0,05 gam chất bột màu trắng kí hiệu P1 gửi giám định chất ma túy; còn lại 0,09 gam chất bột màu trắng kí hiệu P2 nhập kho vật chứng.
Tại kết luận giám định số: 969/KLMT ngày 12 tháng 5 năm 2021 của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định kí hiệu P1 là ma túy; loại Heroine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,05 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,14 gam; loại Heroine.
Quá trình điều tra, Lê Hồng P khai nhận: Ngày 10/5/2021, Lê Hồng P đi làm thuê tại Thành phố Sơn La nên quen biết một người đàn ông khoảng 30 tuổi, người này giới thiệu tên là T ở Thị trấn Yên Châu (P không biết địa chỉ cụ thể). Khoảng 11 giờ cùng ngày, P rủ T về nhà ăn cơm, uống rượu, P nói chuyện với T nên biết T cũng là người nghiện ma túy. Sau đó, P bảo T ở nhà đợi và mang theo số tiền 200.000 đồng rồi điều khiển xe máy BKS: 26B2- 382.81 của Trần Bình T- Sinh năm: 1988- Trú cùng bản: H, xã H, Thành phố S (em rể của Lê Hồng P) đi từ bản H, xã H, Thành phố S đến khu vực bến xe khách Sơn La mục đích tìm mua ma túy để sử dụng (BL: 80- 83; 84- 87; 88- 91; 99- 102). Đến cổng bến xe khách, P gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi (P không biết tên, tuổi, địa chỉ) đang đứng ở gần cổng bến xe. Qua nói chuyện P biết người đàn ông trên có ma túy bán nên hỏi và mua được của người đàn ông trên 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa Heroine với giá 200.000 đồng. Mua được ma túy, P cất giấu gói ma túy vào trong túi quần trước bên phải rồi điều khiển xe máy về nhà; P rủ T vào nhà vệ sinh để sử dụng ma túy, T đồng ý. P lấy một ít Heroine trong gói nilon màu trắng ra sử dụng bằng hình thức đốt hít và đưa cho T một ít Heroine để sử dụng bằng hình thức tiêm chích vào ven tay. Sử dụng ma túy xong, P gói số ma túy còn lại vào trong mảnh nilon màu trắng ban đầu cất giấu vào trong túi quần trước bên phải.
Khoảng 18 giờ cùng ngày, do T không có xe nên T nhờ P chở T về nhà, P đồng ý. P mang theo gói ma túy trong túi quần trước bên phải rồi điều khiển xe máy BKS: 26B2- 382.81 chở T ngồi sau theo đường Quốc lộ 6 về Thị trấn Yên Châu. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, P chở T đến Tiểu khu 6, Thị trấn Yên Châu, huyện Yên Châu, P dừng xe máy để đi vệ sinh, T bảo để T tự đi bộ về nhà. Sau đó P nổ máy điều khiển xe máy về nhà thì bị tổ công tác Công an Thị trấn Yên Châu, huyện Yên Châu bắt quả tang. Lê Hồng P tự giác lấy 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa Heroine ở túi quần trước bên phải giao nộp cho tổ công tác.
Tại phiên tòa bị cáo Lê Hồng P trình bày ý kiến, giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Đối với người bán ma túy cho Lê Hồng P, theo lời khai của P đó là người đàn ông khoảng 40 tuổi, P không biết tên, địa chỉ. Địa điểm trao đổi mua bán ma túy diễn ra gần cổng bến xe khách Sơn La là nơi tập trung nhiều người, từ nhiều nơi khác nhau nên cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu không đủ điều kiện để điều tra xác minh, làm rõ.
Đối với người đàn ông tên T là người cùng sử dụng ma túy và đi cùng P từ thành phố Sơn La về thị trấn Yên Châu. Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu điều tra, xác minh và cho Lê Hồng P nhận dạng 03 người có tên T ở thị trấn Yên Châu phù hợp với lứa tuổi, đặc điểm nhận dạng nhưng không có ai là người cùng sử dụng ma túy với P và đi cùng P từ thành phố Sơn La về thị trấn Yên Châu ngày 10/5/2021.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA- Blade, BKS: 26B2- 382.81, màu sơn xanh đen và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Trần Bình T thu giữ khi bắt quả tang Lê Hồng P. Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy trên là của Trần Bình T- Sinh năm: 1988- Trú tại: Bản H, xã H, Thành phố S, tỉnh Sơn La (em rể của Lê Hồng P) cho P mượn để đi lại. Trần Bình T không biết việc Lê Hồng P sử dụng chiếc xe máy trên làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Ngày 18 tháng 5 năm 2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu đã trả lại chiếc xe máy và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy trên cho Trần Bình T.
Cáo trạng số 42/CT-VKSYC ngày 07/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu truy tố bị can Lê Hồng P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Hồng P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bi ̣ cáo pha ̣m tô ̣i Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Xử phạt bị cáo Lê Hồng P từ 16 đến 22 tháng tù.
Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 10/5/2021.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm b khản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 P bì niêm P, mặt trước ghi: Vật chứng vụ: Lê Hồng P - Sinh năm: 1990 - Trú tại: Bản H, xã H, Thành phố S, phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 10/5/2021 tại Tiểu khu 6, thị trấn Yên Châu, huyện Yên Châu bên trong gồm có: 01 P bì giấy niêm P vật chứng ban đầu + mẫu P2 = 0,09 gam + 01 mảnh nilon màu trắng.
3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Bình T, nhất trí việc Cơ quan Công an đã trao trả lại chiếc xe máy cho anh quản lý, sử dụng. Tại phiên tòa anh Trần Bình T không có ý kiến gì thêm.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo và trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà, bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, bị cáo không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 20 giờ 00 phút ngày 10/5/2021; biên bản niêm P đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm P xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm P lại vật chứng, đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; bản kết luận giám định số 969/KLMT ngày 12 tháng 5 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định kí hiệu P1 là ma túy; loại Heroine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,05 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,14 gam; loại Hêroine.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 10/5/2021 Lê Hồng P đã có hành vi cất giấu trái phép 01 gói Heroine có tổng khối lượng 0,14 gam, mục đích để bản thân sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy đi ̣nh ta ̣i điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện ma tuý. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cũng cần xem xét sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản riêng gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 P bì niêm P, mặt trước ghi: Vật chứng vụ: Lê Hồng P - Sinh năm: 1990 - Trú tại: Bản H, xã H, Thành phố S, phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 10/5/2021 tại Tiểu khu 6, thị trấn Yên Châu, huyện Yên Châu bên trong gồm có: 01 P bì giấy niêm P vật chứng ban đầu + mẫu P2 = 0,09 gam + 01 mảnh nilon màu trắng. Xét là đồ vật liên quan, vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, vật không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA- Blade, BKS: 26B2- 382.81, màu sơn xanh đen và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Trần Bình T thu giữ khi bắt quả tang Lê Hồng P. Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy trên là của Trần Bình T - Sinh năm: 1988 - Trú tại: Bản H, xã H, Thành phố S, tỉnh Sơn La (em rể của Lê Hồng P) cho P mượn để đi lại. Trần Bình T không biết việc Lê Hồng P sử dụng chiếc xe máy trên làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Ngày 18 tháng 5 năm 2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu đã trả lại chiếc xe máy và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy trên cho Trần Bình T quản lý, sử dụng là đúng quy định của pháp luật, được chấp nhâ ̣n.
Đối với người bán ma túy cho Lê Hồng P, theo lời khai của P đó là người đàn ông khoảng 40 tuổi, P không biết tên, địa chỉ. Địa điểm trao đổi mua bán ma túy diễn ra gần cổng bến xe khách Sơn La là nơi tập trung nhiều người, từ nhiều nơi khác nhau nên cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu không đủ điều kiện để điều tra xác minh, làm rõ.
Đối với người đàn ông tên T là người cùng sử dụng ma túy và đi cùng P từ thành phố Sơn La về thị trấn Yên Châu. Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu điều tra, xác minh và cho Lê Hồng P nhận dạng 03 người có tên T ở thị trấn Yên Châu phù hợp với lứa tuổi, đặc điểm nhận dạng nhưng không có ai là người cùng sử dụng ma túy với P và đi cùng P từ thành phố Sơn La về thị trấn Yên Châu ngày 10/5/2021, nên không có căn cứ điều tra xử lý.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Xét thấy thời hạn tạm giam của bị cáo còn lại dưới 45 ngày, Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Hồng P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lê Hồng P 21 (Hai mươi mốt ) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 10/5/2021.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 P bì niêm P, mặt trước ghi: Vật chứng vụ: Lê Hồng P - Sinh năm: 1990 - Trú tại: Bản H, xã H, Thành phố S, phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 10/5/2021 tại Tiểu khu 6, thị trấn Yên Châu, huyện Yên Châu bên trong có: 01 P bì giấy niêm P vật chứng ban đầu + mẫu P2 = 0,09 gam + 01 mảnh nilon màu trắng,mă ̣t sau P bì có dán giấy niêm P số: 046717 của Công an tỉnh Sơn La.
Chấp nhâ ̣n viê ̣c ngày 18 tháng 5 năm 2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu đã trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA- Blade, BKS: 26B2- 382.81, màu sơn xanh đen và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Trần Bình T thu giữ khi bắt quả tang Lê Hồng P quản lý, sử dụng.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụ ng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Lê Hồng P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, ngườ i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Sơn La; - Viện KSND huyện Yên Châu; - Công an huyện Yên Châu; - Chi cục THADS huyện Yên Châu; - Trại giam; - THA HS; - Bị cáo; - Ngườ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La (khi án có hiệu lực); - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Triệu Văn Quang |