vanban.org

Bản án 56/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 23/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”.

[2]. Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn D 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 24/9/2021. [3]. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn D phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ MH
TỈNH HƯNG YÊN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2021/HS-ST
Ngày 23 - 12 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MH - TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Oanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Xuân Hùng.

Bà Đặng Thị Tuyết Hương

Thư ký phiên toà: Ông Lê Tiến Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã MH, tỉnh Hưng Yên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã MH, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Đặng Hiền Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thị xã MH, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2021/TLST - HS ngày 29/11/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2021/QĐXXST - HS ngày 08/12/2021 đối với bị cáo:

Đinh Văn D, sinh năm 1987 tại xã HT, huyện PY, tỉnh SL.

Tên gọi khác: không. Nơi cư trú: Bản Lềm, xã HT, huyện PY, tỉnh SL; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn L và bà Đinh Thị X; vợ: Hà Thị H, sinh năm 1992 (đã ly hôn); con: có 01 con, sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Chưa có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/9/2021, tạm giam ngày 27/9/2021. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Vương Thị Thanh Nhàn - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hưng Yên (có mặt).

* Người làm chứng:

- Anh Vũ Xuân L, sinh năm: 1988 (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố PB, phường DS, thị xã MH, tỉnh Hưng Yên.

- Ông Lê Văn K, sinh năm 1964 (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố PB, phường DS, thị xã MH, tỉnh Hưng Yên

- Bà Bùi Thị X, sinh năm 1964 (vắng mặt).

Địa chỉ: Bản L, xã HT, huyện PY, tỉnh SL.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc một số đối tượng có biểu hiện tàng trữ trái phép ch t ma túy, hồi 09 giờ 40 phút ngày 24/9/2021 Công an thị xã MH phối hợp cùng công an phường DS tiến hành kiểm tra tại nhà anh Vũ Xuân L, sinh năm 1988 ở tổ dân phố PB, phường DS, thị xã MH, tỉnh Hưng Yên phát hiện tại bàn bi-a nhà anh L; đối tượng Đinh Văn D sinh năm 1987, hộ khẩu thường trú ở Bản L, xã HT, huyện PY, tỉnh SL (hiện đang ở tổ dân phố PB, phường DS, thị xã MH) có hành vi tàng trữ trái phép ch t ma túy.

Vật chứng thu giữ: Tại túi quần bò nhỏ bên phải phía trước của D 01 gói màu vàng được cắt từ vỏ bao thuốc lá Thăng Long, bên trong chứa ch t dạng cục, bột màu trắng (niêm phong ký hiệu U1). Ngoài ra Cơ quan điều tra còn quản lý của D 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đen, số Imei1: 356525117301909, số Imei2: 356525117301917, bên trong có lắp 1 sim.

Cùng ngày 24/9/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã MH tiến hành khám xét khẩn c p chỗ ở của Đinh Văn D tại tổ dân phố PB, phường DS, thị xã MH kết quả khám xét không thu giữ đồ vật gì.

Tại bản Kết luận giám định số 287/MT-PC09 ngày 27/9/2021 của Ph ng k thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu ch t màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu U1, có khối lượng là 0,154 gam, là ma túy, là loại Heroine.

Quá trình điều tra bị cáo Đinh Văn D đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. D khai nhận: Khoảng 7 giờ ngày 24/9/2021, D từ phòng trọ đi ra khu vực đường Quốc lộ 5A bắt xe ôm của một người đàn ông không rõ, tên, tuổi địa chỉ để đi đến khu vực thị tr n Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương tìm mua ma túy. Khi đến nơi, D bảo người xe ôm đợi ở ngoài, D một mình đi vào ngõ hỏi mua 100.000 đồng ma túy của một người thanh niên không rõ tên, tuổi, địa chỉ. Người này đưa cho D một gói ma túy (Heroine), D cầm gói ma túy nói trên đi ra đoạn bờ sông gần đó sử dụng một ít. Số ma túy còn lại, D c t vào trong túi quần bò nhỏ phía trước bên phải mục đích để tiếp tục sử dụng. Sau đó, D quay ra chỗ người lái xe ôm để đi về. Trên đường về, D đi đến nhà anh Vũ Xuân L để chơi bi-a. Trong lúc D chơi bi-a đến khoảng 09 giờ 40 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an phát hiện và thu giữ vật chứng như nêu ở trên.

Đối với người đàn ông lái xe ôm không rõ tên, tuổi địa chỉ D xác định người này không biết D thuê chở đi mua ma túy, đối với anh Vũ Xuân L là chủ quán bi-a, anh L không biết việc D c t gi u ma túy nên không có căn cứ xử lý. Đối với người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ D khai bán ma túy cho D tại khu vực thị tr n Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã MH đã thông báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương để giải quyết theo thẩm quyền. Đối với chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Itel màu đen bên trong có lắp 01 sim là tài sản hợp pháp của bị cáo D không sử dụng vào hành vi phạm tội, bị cáo đề nghị nhận lại.

Tại bản cáo trạng số: 62/CT - VKSMH ngày 26/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã MH, tỉnh Hưng Yên đã truy tố Đinh Văn D về tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã MH giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”.

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 24/9/2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 287/MT - PC09 hoàn lại sau giám định bên trong chứa 0,145gram heroin. Trả lại bị cáo Đinh Văn D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đen, số Imei 1: 356525117301909, số Imei 2: 356525117301917, bên trong lắp 01 sim. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Người bào chữa cho bị cáo nh t trí với tội danh, điều luật và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã MH áp dụng cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nghe rõ, nh t trí với nội dung bản luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã MH và bài bào chữa của người bào chữa cho bị cáo, bị cáo không tranh luận. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án th p nh t để bị cáo sớm trở về gia đình và h a nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an thị xã MH và điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã MH và kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung vụ án: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo tỏ ra ăn năn hối hận và thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của những người làm chứng; Biên bản kiểm tra; Kết luận giám định cùng các vật chứng mà Cơ quan điều tra đã thu giữ. Như vậy, đã có đủ căn cứ xác định: Khoảng 09 giờ 40 phút ngày 24/9/2021, tại tổ dân phố PB, phường DS, thị xã MH, tỉnh Hưng Yên, Đinh Văn D đã có hành vi c t gi u trái phép 0,154 gam Heroine trong người với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã MH truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền kiểm soát các ch t ma túy của Nhà nước, gây m t trật tự trị an cho xã hội. Bị cáo có đủ năng lực nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn phạm tội. Việc sử dụng ma túy là r t nguy hiểm cho sức khỏe và là nguyên nhân dẫn đến lây lan căn bệnh thế kỷ HIV - AIDS. Đối tượng là tầng lớp thanh, thiếu niên là nguồn lao động chính trong xã hội, làm giảm sức lao động và là nguyên nhân nảy sinh các loại tội phạm khác, gây m t trật tự trị an xã hội, gây b t bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, áp dụng mức hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên khi cân nhắc hình phạt đối với bị cáo, hội đồng xét xử cần xem xét đến đặc điểm nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng và mức độ nghiêm trọng do hành vi phạm tội của bị cáo để ra một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và có tính giáo dục, phòng ngừa chung.

Đối với người đàn ông lái xe ôm không rõ tên, tuổi địa chỉ bị cáo xác định người này không biết bị cáo thuê chở đi mua ma túy; đối với anh Vũ Xuân L là chủ quán bi-a, anh L không biết việc bị cáo c t gi u ma túy nên không có căn cứ xử lý nên T a án không đặt ra để xét. Đối với người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ bị cáo khai bán ma túy cho bị cáo tại khu vực thị tr n Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã MH đã thông báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình iang, tỉnh Hải Dương để giải quyết theo thẩm quyền là đúng quy định của pháp luật.

[3]. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hướng xử lý đối với bị cáo:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối hận và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội; bà ngoại của bị cáo là mẹ đẻ của liệt sĩ - Người có công với cách mạng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử nhận th y: Mặc dù bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; tuy nhiên hành vi của bị cáo r t nguy hiểm trực tiếp tiếp tay cho hành vi mua bán trái phép trái phép ch t ma túy. Vì vậy, khi cân nhắc hình phạt đối với bị cáo, hội đồng xét xử nhận th y cần bắt bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian nh t định mới có tác dụng, cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng. Vì vậy HĐXX xét th y không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5]. Về vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong số 287/MT - PC09 hoàn lại sau giám định bên trong chứa 0,145gram heroin đây là vật chứng của vụ án, nhà nước c m tàng trữ không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đen, số Imei 1: 356525117301909, số Imei 2: 356525117301917, bên trong lắp 01 sim; quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bị cáo, bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên sẽ trả lại cho bị cáo.

[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự.

[1]. Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”.

[2]. Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn D 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 24/9/2021.

[3]. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4]. Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 287/MT - PC09 hoàn lại sau giám định bên trong chứa 0,145gram heroin.

Trả lại bị cáo Đinh Văn D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đen, số Imei 1: 356525117301909, số Imei 2: 356525117301917, bên trong lắp 01 sim.

(Đặc điểm vật chứng theo Quyết định chuyển vật chứng số 54/QĐ - VKSMH ngày 26/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã MH; Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/11/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã MH và Chi cục thi hành án dân sự thị xã MH).

[6]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm hình sự.

[7]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ