vanban.org

Bản án 56/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 21/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Trần Văn N 18(Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 06/9/2021. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự. Tịch thu, tiêu hủy:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOA LƯ
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56 /2021/HS-ST
Ngày: 21- 12- 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Vũ Quang Chung.

Hội thẩm nhân dân: ông Lê Văn Quân và ông Phạm Đức Thọ

- Thư ký phiên toà: bà Giang Thị Mến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hồng Sinh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2021/HSST ngày 19/11/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2021/QĐXXST- HS ngày 07/11/2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn N (tên gọi khác: không) sinh năm 1992, tại Ninh Bình; giới tính: Nam; nơi cư trú: xóm 3, thôn K, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; con ông Trần Văn C, con bà Trần Thị H; Vợ: Phạm Thị T; con: có ba con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2017.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 23/11/2016, Công an huyện Gia Viễn ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự, đình chỉ điều tra bị can đối với N về tội “Cố ý gây thương tích”. Đồng thời ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác. N chưa chấp hành Quyết định này.

Lịch sử bản thân: Ngày 23/7/2015, Công an huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 23/7/2015, Nhâm chấp hành xong quyết định này.

- Ngày 15/01/2019, Công an thành phố Ninh Bình ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 18/3/2019, N chấp hành xong quyết định này.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/9/2021, chuyển tạm giam ngày 10/9/2021, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình; có mặt.

Người làm chứng: anh Phạm Ngọc L và anh Hoàng Văn T; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 06/9/2021, Trần Văn N đi làm về đến khu vực ngã ba G thuộc xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình thì gặp một người đàn ông lái xe ôm không quen biết đang đứng ở ven đường. N lại gần hỏi thuê xe ôm để về nhà, người lái xe ôm đồng ý. Khi đi được khoảng 300 mét, người lái xe ôm hỏi N “có chơi đồ không”, N trả lời “thi thoảng em có chơi Heroine”, người lái xe ôm nói “có chơi không anh đi lấy hộ cho”, N nói “vậy cũng được”. Sau đó người lái xe ôm chở N đến khu vực Thị trấn Thiên Tôn, huyện Hoa Lư bảo Nhâm ngồi chờ ở ven đường rồi bỏ đi. Khoảng 20 phút sau người lái xe ôm quay lại nói “hàng người ta để trong bao thuốc, để tiền chỗ bao thuốc rồi lấy bao thuốc về”. Người lái xe ôm chở N đến khu vực đường Quốc lộ 1A thuộc xóm Tân Mỹ, xã Ninh Mỹ, huyện Hoa Lư thì dừng lại rồi chỉ tay vào bao thuốc lá ven đường cách N khoảng 10 mét nói “Hàng trong bao thuốc lá để lại hai trăm nghìn rồi lấy bao thuốc về”. N xuống xe đi bộ đến nhặt bao thuốc lá đồng thời để 200.000 đồng xuống vị trí để bao thuốc lá rồi quay lại chỗ người lái xe ôm. N cầm bao thuốc lá trong tay phải và đi bộ được khoảng 3 mét thì bị Tổ công tác Công an huyện Hoa Lư phối hợp với Công an xã Ninh Mỹ, huyện Hoa Lư đến yêu cầu kiểm tra. N tự giác giao nộp 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong chứa ma túy cho Tổ công tác và khai nhận hành vi vi phạm của mình. Tổ công tác tiến hành kiểm tra thấy bên trong bao thuốc lá có 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng mảnh giấy màu trắng bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng đục sau đó niêm phong gói ma túy theo đúng quy định của pháp luật. Tiến hành thu giữ gói ma túy và vỏ bao thuốc lá Thăng Long của N sau đó đưa N cùng vật chứng về trụ sở Công an xã Ninh Mỹ, huyện Hoa Lư để làm việc.

Tiến hành cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng đục được gói ngoài bằng giấy màu trắng thu giữ của Trần Văn N có khối lượng 0,24 gam, ký hiệu M1 niêm phong trưng cầu giám định xác định loại ma túy và khối lượng chất ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 682/KLGĐ-PC09-MT ngày 10/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình, Kết luận: “Mẫu chất bột dạng cục màu trắng đục gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,2430 (không phẩy hai nghìn bốn trăm ba mươi) gam, là ma túy, loại Heroine. Heroine là chất ma túy thuộc bảng danh mục I, số thứ tự 9; Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ”.

Cơ quan giám định hoàn lại đối tượng giám định gồm chất bột màu trắng đục còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,1610 gam là ma túy, loại Heroine; Toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong, tất cả được niêm phong trong phong bì “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” có ghi số 682/KLGĐ-PC09-MT cùng thông tin về vụ việc và vật chứng.

Tại bản cáo trạng số: 56/CT-VKSHL ngày 17/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư truy tố bị cáo Trần Văn N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ của vụ án, hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Trần Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Trần Văn N từ 18 đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 06/9/2021.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy: 0,1610 gam Heroine cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong cơ quan giám định hoàn trả, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, 01 mảnh giấy màu trắng, vỏ phong bì niêm phong ban đầu.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội, bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà, bị cáo khai nhận: Khoảng 16 giờ, ngày 06/9/2021,bị cáo đi làm về đến ngã ba Gián Khẩu thuộc xã Gia Trấn, huyện Gia Viễn bị cáo thuê xe ôm với mục đích để về nhà. Do bản thân bị cáo nghiện ma túy sau khi người xe ôm hỏi có chơi đồ không (ý nói chơi ma túy) thì anh ta lấy hộ cho, ngay lập tức bị cáo đã đồng ý. Người lái xe ôm chở bị cáo đến khu vực đường Quốc lộ 1A thuộc xóm Tân Mỹ, xã Ninh Mỹ, huyện Hoa Lư thì dừng lại rồi chỉ tay vào bao thuốc lá ven đường cách N khoảng 10 mét nói “Hàng trong bao thuốc lá để lại hai trăm nghìn rồi lấy bao thuốc về”. Bị cáo xuống xe đi bộ đến nhặt bao thuốc lá đồng thời để 200.000 đồng xuống vị trí để bao thuốc lá rồi quay lại chỗ người lái xe ôm. Khi bị cáo quay lại đi được khoảng 03m thì bị Tổ công tác Công an huyện Hoa Lư phối hợp với Công an xã Ninh Mỹ, huyện Hoa Lư đến yêu cầu kiểm tra. Bị cáo tự giác giao nộp 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong chứa ma túy cho Tổ công tác và khai nhận hành vi vi phạm của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa được chứng minh bằng lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; lời khai người làm chứng; bản kết luận giám định; vật chứng thu giữ và các tài liệu,chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được xem xét tại phiên tòa. Theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự thì:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

.......................................................

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…………………………………….”.

Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Hành vi tàng trữ 0.2430 gam ma túy loại heroine với mục đích sử dụng cho bản thân ngày 06/9/2021 của Trần Văn Nhâm đã cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội.

Hµnh vi ph¹m téi cña bÞ c¸o lµ nghiªm träng, kh«ng nh÷ng vi ph¹m vµo chÕ ®é ®éc quyÒn qu¶n lý cña nhµ n íc vÒ viÖc cÊt gi÷, trao ®æi chÊt ma tuý, mµ cßn lµ mét trong c¸c nguyªn nh©n trùc tiÕp lµm ph¸t sinh, l©y lan tÖ n¹n nghiÖn ma tuý, làm phát sinh ra các loại tội phạm khác. Bị cáo là người trưởng thành có đầy đủ nhận thức, mÆc dï nhËn thøc ® îc hµnh vi cña m×nh là vi phạm pháp luật, song vì muốn tháa m·n ý thÝch c¸ nh©n bÞ cáo vẫn cè t×nh thùc hiÖn dÉn ®Õn ph¹m téi. Do ®ã, cÇn buéc bÞ c¸o ph¶i chÞu tr¸ch nhiÖm h×nh sù như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Nh vËy, míi cã t¸c dông c¶i t¹o, gi¸o dôc bÞ c¸o từ bỏ ma túy, ®ång thêi còng ®Ó r¨n ®e, gi¸o dôc, phßng ngõa chung.

[2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội, khi bị kiểm tra bị cáo đã giao nộp gói ma túy, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[3] Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần áp dụng hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo. Bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 0,1610 gam Heroine cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong cơ quan giám định hoàn trả, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, 01 mảnh giấy màu trắng, vỏ phong bì niêm phong ban đầu

[5] Về nguồn gốc số ma tuý: N khai được người lái xe ôm chở và chỉ chỗ để bao thuốc lá có chứa ma túy tại khu vực xóm Tân Mỹ, xã Ninh Mỹ, huyện Hoa Lư. N không biết họ tên, tuổi, địa chỉ của người xe ôm này và cũng không biết ai là người để ma túy tại vị trí đó, nên không đủ căn cứ để điều tra xác minh làm rõ.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hoa Lư, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Trần Văn N 18(Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 06/9/2021.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự. Tịch thu, tiêu hủy:

- Một phong bì thư dán kín mép niêm phong còn nguyên vẹn, có đầy đủ chữ ký của các thành phần tham gia và 03 hình dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình xác nhận niêm phong theo đúng quy định của pháp luật. Trên mặt phong bì có ghi số 682/KLGĐ-PC09-MT mẫu vật hoàn trả sau giám định vụ Trần Văn N, sinh năm 1992; xảy ra ngày 06/9/2021 tại xã Ninh Mỹ, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Mẫu vật hoàn trả gồm: M1= 0,1610 gam là ma túy loại Heroine và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong.

- Một phong bì thư dán kín mép niêm phong còn nguyên vẹn, có đầy đủ chữ ký của các thành phần tham gia và 03 hình dấu tròn của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoa Lư xác nhận niêm phong theo đúng quy định của pháp luật. Trên mặt phong bì có ghi 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long thu giữ của Trần Văn N ngày 06/9/2021 tại xã Ninh Mỹ, huyện Hoa Lư, Ninh Bình.

- Một phong bì thư dán kín mép niêm phong còn nguyên vẹn, có đầy đủ chữ ký của các thành phần tham gia và 03 hình dấu tròn của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoa Lư xác nhận niêm phong theo đúng quy định của pháp luật. Trên mặt phong bì có mẫu vật còn lại thu giữ của Trần Văn N ngày 06/9/2021 tại xã Ninh Mỹ, huyện Hoa Lư, Ninh Bình.

Tình trạng vật chứng như biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoa Lư và Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoa Lư lập ngày 18/11/2021.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Buộc Trần Văn Nhâm phải chịu án phí hình sự sơ thẩm: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (21/12/2021).

Truờng hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./. N¬i nhËn:

Cỡ chữ