vanban.org

Bản án 56/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 22/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Quan Quốc T phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, b…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DIÊN KHÁNH
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2021/HS-ST
Ngày: 22- 12- 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Sương

Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Hoa

Ông Nguyễn Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Hồ Hữu Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2021/HS-ST ngày 08 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2021/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Quan Quốc T (tên gọi khác: B) - sinh năm 1991 tại Khánh Hòa; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Xuân Đ, xã Diên X, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha Quan Văn Th (sinh năm 1962); mẹ Trần Thị Kim H(sinh năm 1964); gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 02/02/2018, Tòa án nhân dân huyện D xử phạt 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Bản án số 10/2018), ngày 21/12/2018 chấp hành xong hình phạt tù; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Ông Lê Quốc N - sinh năm 1994

Địa chỉ: Thôn An Đ, xã Diên Ph, huyện D, Khánh Hòa.

Ông N vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Võ Quang Tr - sinh năm 1983

Địa chỉ: Thôn Phò Th, xã Diên Ph, huyện D, Khánh Hòa.

Ông Tr vắng mặt.

2. Ông Lê Quốc N - sinh năm 1994

Địa chỉ: Thôn An Đ, xã Diên Ph, huyện D, Khánh Hòa.

Ông N vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 04/5/2021, Quan Quốc T đi xe mô tô đến 01 quán nước ở thành phố N (không xác định được địa điểm) để cá cược bóng đá, sau đó thua tiền và nợ quán 1.500.000 đồng nên T tìm cách cầm cố xe mô tô đang sử dụng để trả nợ. Do giấy chứng minh nhân dân và giấy đăng ký xe mô tô của T đang ở chỗ ông Lê Quốc N (sinh năm 1994, trú thôn An Đ, xã Diên Ph, huyện) nên T bỏ xe mô tô lại quán rồi đi xe ôm từ thành phố N đến huyện D để gặp ông N lấy giấy tờ.

Khi gặp N, biết N đang sử dụng xe mô tô BKS 79H1-52…, Thắng hỏi mượn xe để đi vay tiền và hẹn N 16 giờ cùng ngày trả xe. Sau khi mượn được xe, T đi vay tiền rồi tiếp tục đến quán nước cá cược bóng đá, thua cược hết tiền và nợ thêm 6.000.000 đồng. T cầm cố xe mô tô BKS 79H1-52…. cho 01 người thanh niên ở quán nước (không xác định được nhân thân, lý lịch) để trả tiền thua cược, rồi lấy xe mô tô của mình đi khỏi quán.

Đến giờ hẹn, ông N gọi điện thoại yêu cầu T trả xe thì T nói dối là vẫn chưa vay được tiền và hẹn sẽ mang xe đến trả sau. Ông N nhiều lần liên lạc với T thì T nói dối là đang về trả xe, sau đó cố tình không nghe điện thoại của N. Sang ngày 05/5/2021, lo sợ mất xe, N nói lại sự việc với chủ xe mô tô BKS 79H1-52… là Võ Quang Tr (sinh năm 1983, trú thôn Phò Th, xã Diên Ph, huyện D), Tr liên lạc với T thì T vẫn nói dối và hứa hẹn như đã nói với N rồi tắt điện thoại, không ai liên lạc được. Sau nhiều lần liên lạc với T không được và chờ đợi không có kết quả, Tr trình báo sự việc với Cơ quan Công an.

Biết tin Tr báo Công an, đến ngày 08/5/2021, T chuộc xe mô tô BKS 79H1-52… và giao nộp cho Công an xã Diên Ph cùng ngày. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện D, Quan Quốc T đã khai nhận hành vi phạm tội.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 45 ngày 19/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện D kết luận xe mô tô BKS 79H1-52852 trong vụ “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” có giá trị 26.650.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, Quan Quốc T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, tự nguyện khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Vật chứng của vụ án: Xe mô tô biển kiểm soát 79H1-52… đã trả cho chủ sở hữu ông Võ Quang Tr.

Về phần dân sự: Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự.

Tại bản cáo trạng số 50/CT-VKSDK ngày 27/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện D truy tố bị cáo Quan Quốc T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D giữ nguyên Quyết định truy tố đối với bị cáo Quan Quốc T như nội dung bản cáo trạng nêu trên; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 175, điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo, xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về vật chứng: Đã trả cho chủ sở hữu nên đề nghị HĐXX không xem xét. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bị cáo bồi thường nên đề nghị HĐXX không xem xét. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện D, bị cáo không có ý kiến tranh luận và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có lời khai tại hồ sơ, căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Diên Khánh, Điều Tra Viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[3] Về nội dung vụ án: Tại phiên toà, bị cáo Quan Quốc T thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với với lời khai của bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại cơ quan điều tra, kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Hành vi mượn tài sản của người khác để sử dụng, sau đó nảy sinh ý định chiếm đoạt nên đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản mà Quan Quốc T thực hiện đã cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự. Do đó, bản Cáo trạng số: 50/CT-VKSDK ngày 27/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện D truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ sức khỏe nhưng không chịu lao động, bị cáo dựa vào sự tin tưởng của ông N, mượn xe đi vay tiền rồi chiếm đoạt tài sản, giá trị tài sản chiếm đoạt lên đến 26.650.000 đồng. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” lại tiếp tục thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần xử lý nghiêm đối với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ngoài xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi và trả cho bị hại. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự là phù hợp.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Quốc N và ông Võ Quang Tr vắng mặt nhưng tại hồ sơ thể hiện đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên HĐXX không xem xét.

[5] Về xử lý vật chứng: Xe mô tô biển kiểm soát 79H1-52852 đã trả lại cho chủ sở hữu ông Võ Quang Tr nên HĐXX không xem xét.

[6] Về án phí: Bị cáo Quan Quốc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 điều 175; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Căn cứ vào Điều 136; Điều 292, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Xử phạt: Bị cáo Quan Quốc T 09 (chín) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

2. Về án phí: Bị cáo Quan Quốc T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ