- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn (L-D)"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 202 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2021/HNGĐ-ST Ngày: 15 - 11 - 2021. V/v: “Tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thúy Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Vĩnh Hạnh;
2. Ông Huỳnh Văn Nhân.
Thư ký phiên tòa: Bà Thạch Thị Thi – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, Thành phố Cần Thơ.
Ngày 15 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, Thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 62/2021/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2021. về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 558/2021/QĐXX-ST
ngày 22 tháng 10 năm 2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm: 1971. Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Đặng Quốc D, sinh năm: 1976. Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Số Q tổ QQ, khu vực QQQ, phường QQQQ, quận QQQQQ, thành phố Cần Thơ.
3. Người có quyền và lợi ích được bảo vệ:
Đặng Phước L1, sinh ngày 16/12/1995.
Địa chỉ: đang sống cùng mẹ (bà L).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/3/2021 và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ L trình bày:
Chị và anh Đặng Quốc D tự nguyện tìm hiểu tiến tới hôn nhân và chung sống với nhau năm 1995, đến năm 2000 đăng ký kết hôn tại phường QQQQ, quận QQQQQ, thành phố Cần Thơ.
Sau thời gian sinh sống, vợ chồng chung sống hạnh phúc và có với nhau 01 con chung tên Đặng Phước L1 (nam), sinh ngày 16/12/1995 (đã trưởng thành). Nhưng sau đó cuộc sống vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do quan điểm sống của vợ chồng không phù hợp nhau, hơn nữa anh D có người phụ nữ khác. Chị và anh D đã ly thân 10 năm, nay tình cảm vợ chồng đã thật sự không còn, mâu thuẫn không hàn gắn được nên chị yêu cầu được ly hôn. Về con chung: đã lớn và trưởng thành nên không yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung: không có, nên không yêu cầu giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần đối với bị đơn anh Đặng Quốc D, cụ thể vào các ngày như: ngày 22/6/2021 và ngày 13/7/2021 để hòa giải, tự khai và công khai chứng cứ tại tòa, nhưng bị đơn anh D vẫn cố tình vắng mặt. Do đó, vụ án không thể tiến hành hòa giải được nên đưa ra xét xử theo qui định chung.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Chị L và anh D tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn và chị L có đơn khởi kiện, xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh D được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa vào các ngày 23/9/2021; ngày 21/10/2021 và ngày 15/11/2021 nhưng bị đơn anh D vẫn cố tình vắng mặt. Căn cứ theo qui định tại Điều 202 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn anh Nghị.
. Xét quan hệ hôn nhân: Căn cứ giấy đăng kí kết hôn số 80 ngày 30/6/2000 của phường QQQQ, quận QQQQQ, thành phố Cần Thơ, nên xác định hôn nhân giữa chị L và anh D là hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn và đã ly thân 10 năm cho đến nay. Thời gian ly thân cả hai không còn quan tâm chăm sóc đến nhau.
Theo chị L, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, hơn nữa theo như chị L trình bày thì anh D có người phụ nữ khác nên giữa chị và anh D thường xuyên xảy ra mâu thuẫn.
Đối với bị đơn anh D, Tòa án đã triệu tập nhiều lần để đoàn tụ, hòa giải và tham gia phiên tòa, nhưng anh D vẫn cố tình vắng mặt. Bên cạnh đó, theo chị L trình bày: anh D có biết về việc chị gửi đơn xin ly hôn và có biết các lần thông báo, triệu tập của Tòa án nhưng anh D không có ý kiến gì và cũng không muốn đến Tòa.
Như vậy, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh D là có thật. Nếu như anh D có thiện chí hàn gắn, đoàn tụ gia đình thì trong các lần Tòa án triệu tập anh D đã lên để thể hiện ý kiến của mình. Đằng này anh D không hề quan tâm việc chị L yêu cầu ly hôn, chứng tỏ bị đơn cũng không có thiện chí đoàn tụ gia đình. Hơn nữa, giữa chị L và anh D đã ly thân 10 năm nay, khi ly thân thì không ai quan tâm đến ai.
Do đó, tình trạng vợ chồng giữa anh D, chị L đã thật sự rạn nứt, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị L.
Về tài sản và nợ chung: Ghi nhận ý kiến của đương sự về việc không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác (nếu có yêu cầu).
. Về con chung: Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn chị L thì thời gian chung sống có 01 con chung tên Đặng Phước L1 (nam), sinh ngày 16/12/1995. Điều này phù hợp với giấy khai sinh cháu L1. Nên có cơ sở xác định là con chung của anh D, chị L.
Tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày hiện tại cháu L1 đã trưởng thành, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân & gia đình: Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 227, 228, 264 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 56 Luật Hôn nhân & gia đình năm 2014;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ L về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn với bị đơn anh Đặng Quốc D.
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ L được ly hôn với anh Đặng Quốc D.
[2]. Về con chung: Có 01 con chung tên Đặng Phước L1 (nam), sinh ngày 16/12/1995 đã trưởng thành nên không yêu cầu.
[3]. Về tài sản và nợ chung: Ghi nhận ý kiến của đương sự về việc không có, không yêu cầu giải quyết.
[4]. Về án phí hôn nhân và gia đình: 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) chị L phải chịu, khấu trừ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 005097 ngày 16 tháng 3 năm 2021 thành án phí phải chịu.
Đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án niêm yết. Để yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND Q.BT; - Chi cục THADS Q.BT; - TAND TP.CT; - UBND phường (nơi ĐKKH); - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Phan Thúy Nguyên |