- Tranh chấp gì? án hình sự — "LỮ VĂN DIỆM tnagf trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lữ Văn D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 56/2020/HSST Ngày: 14 - 7 - 2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Nhung;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quang Đôn và bà Lò Thị Dỉnh;
- Thư ký phiên tòa: Bà Thào Thị Thu Nhàn - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thuân - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2020, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2020/TLST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2020/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lữ Văn D; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; sinh ngày: 15/10/1959 tại Thanh Hóa; nơi cư trú: Tổ dân phố 4, phường N, thành phố Đ, tỉnh Đ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 07/10; con ông: Lữ Đông T (đã chết) và bà Phạm Thị C (đã chết); vợ: Hoàng Thị H; con: Có 02 con đã thành niên; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Sử dụng ma túy nhiều năm; bị tạm giữ từ ngày 18/3/2020, sau đó bị tạm giam cho đến nay; có mặt;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lữ Thế Tr; địa chỉ: Tổ dân phố 4, phường N, thành phố Đ, tỉnh B; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 18/3/2020, tại tổ 4, phường Nam Thanh, thành phố Điện Biên Phủ; phát hiện có dấu hiệu tội phạm ma túy, Công an phường Nam Thanh dừng xe máy BKS 27B1 - 975.59 do bị cáo Lữ Văn D đang điều khiển; bị cáo khai nhận mình đang giấu ma túy trong người nên bị cáo được đưa về trụ sở Công an phường Nam Thanh để kiểm tra; thu tại túi quần trước của bị cáo 01 gói nilon màu đỏ, chứa 02 viên nén màu hồng; thu tại túi quần sau của bị cáo 01 gói nilon màu đỏ, chứa 01 viên nén màu hồng; bị cáo khai đó là hồng phiến, bị cáo vừa mua của một người thanh niên không quen biết ở bản Xôm, xã Thanh Yên, huyện Điện Biên với giá 90.000 đồng để bị cáo sử dụng.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình như đã nêu trên.
Cơ quan điều tra đã gửi 03 viên nén màu hồng thu giữ của bị cáo đi giám định. Bản kết luận giám định số 273/GĐ-PC09 ngày 25/3/2020 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Điện Biên kết luận: Các viên nén màu hồng gửi giám định có tổng khối lượng 0,23 gam; là chất ma túy loại Methamphetamine, nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự 323, mục IIC, danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ; sau giám định, niêm phong và hoàn lại tổng số 0,17 gam mẫu vật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về các kết luận giám định nêu trên.
2. Các vấn đề khác:
Cơ quan điều tra đã tạm giữ của bị cáo xe máy BKS 27B1 - 975.59 kèm chìa khóa, một điện thoại di động kèm sim. Xe máy bị cáo mượn của con trai bị cáo là Lữ Thế Tr; anh Tr không biết bị cáo dùng xe đi mua ma túy và đã nhận lại xe từ cơ quan điều tra. Điện thoại kèm sim, cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo thông qua người đại diện theo ủy quyền.
3. Cáo trạng số 55/CT-VKSTPĐBP ngày 15/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS: Xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Vật chứng đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
4. Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ được, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ để xác định: Bị cáo Lữ Văn D đã có hành vi cất giữ trái phép 0,23 gam Methamphetamine trong túi quần đang mặc, với mục đích để sử dụng và đã bị Công an phường Nam Thanh phát hiện bắt quả tang vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 18/3/2020 tại tổ 4, phường Nam Thanh, thành phố Điện Biên Phủ.
Khoản 1 Điều 249 BLHS quy định: "Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...c) ...Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam".
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điều luật đã viện dẫn ở trên.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước mà nguyên nhân là do bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, nghiện sử dụng ma tuý; cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, để giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung. Áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo đối với bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; mức hình phạt và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng đối với bị cáo là có cơ sở để chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo Khoản 5 Điều 249 BLHS thì: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản". Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định; do đó HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng và các vấn đề khác:
Số ma túy còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành, tịch thu để hủy cùng những vật dụng gói ma túy không còn giá trị.
Bị cáo không quen biết người bán ma tuý cho mình nên không có cơ sở điều tra làm rõ. Anh Tr không biết việc bị cáo mượn xe đi mua ma túy và đã nhận lại xe; người đại diện theo ủy quyền của bị cáo đã nhận lại điện thoại kèm sim do những đồ vật này không liên quan đến hành vi phạm tội, nên HĐXX không đề cập xử lý.
Án phí: Bị cáo là người cao tuổi, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí và được miễn theo Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về lệ phí và án phí Tòa án.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Điện Biên Phủ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lữ Văn D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS: Xử phạt bị cáo 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 18/3/2020.
3. Vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1 và điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu để hủy 0,17 gam Methamphetamine và hai mảnh nilon đã niêm phong (Biên bản giao nhận vật chứng ngày tháng năm 2020 giữa Chi cục thi hành án dân sự và Cơ quan cảnh sát điều tra).
4. Án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/7/2020). Nếu những người này vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Nguời có QLNVLQ;
- Viện kiểm sát TP.ĐBP;
- Viện kiểm sát tỉnh ĐB;
- Cơ quan CSĐT công an TP.ĐBP;
- Cơ quan thi hành án hình sự;
- Nhà tạm giữ CATP;
- Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên;
- HS Thi hành án HS;
- Chi cục Thi hành án DS TPĐBP;
Vũ Thị Nhung
- TAND tỉnh ĐB;
- Lưu hồ sơ; -VP.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán chủ tọa
Lò Thị Dỉnh
Phạm Quang Đôn
Vũ Thị Nhung Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Nguời có QLNVLQ;
- Viện kiểm sát TP.ĐBP;
- Viện kiểm sát tỉnh ĐB;
- Cơ quan CSĐT công an TP.ĐBP;
- Cơ quan thi hành án hình sự;
- Nhà tạm giữ CATP;
- Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên;
- HS Thi hành án HS;
Vũ Thị Nhung
- Chi cục Thi hành án DS TPĐBP;
- TAND tỉnh ĐB;
- Lưu hồ sơ; -VP. TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH ĐIỆN BIÊN
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 8 giờ 20 phút, ngày 14/7/2020;
Tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên;
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Nhung;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lò Thị Dỉnh và ông Phạm Quang Đôn;
[
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số thụ lý số 59/2020/HSST ngày 15/6/2020 đối với bị cáo: Lữ Văn D; sinh năm 1959 tại Thanh Hóa;
Căn cứ vào Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật;
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU
1. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc thuộc trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Biểu quyết: 3/3 nhất trí.
2. Những chứng cứ , tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều hợp pháp.
Biểu quyết: 3/3 nhất trí
3. Có căn cứ kết tội bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Biểu quyết: 3/3 nhất trí.
4. Hình phạt, trách nhiệm bồi thường thiệt hại và các vấn đề dân sự:
- Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS: Xử phạt bị cáo 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 18/3/2020. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Biểu quyết: 3/3 nhất trí.
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Không đề cập giải quyết.
Biểu quyết: 3/3 nhất trí.
- Vấn đề dân sự trong vụ án hình sự: Không có. ơ
Biểu quyết: 3/3 nhất trí.
5. Bị cáo không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.
Biểu quyết: 3/3 nhất trí.
6. Án phí, vật chứng, tài sản bị kê biên, tài khoản bị phong tỏa:
- Án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTVQH.
Biểu quyết: 3/3 nhất trí.
- Vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1 và điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu để hủy 0,17 gam Methamphetamine và hai mảnh nilon đã niêm phong.
- Tài sản bị kê biên, tài khoản bị phong tỏa: Không có
Biểu quyết: 3/3 nhất trí.
7. Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều hợp pháp.
Biểu quyết: 3/3 nhất trí.
8. Kiến nghị phòng ngừa tội phạm, khắc phục vi phạm: Không
Biểu quyết: 3/3 nhất trí.
9. Quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 14/7/2020; nếu những người này vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Biểu quyết: 3/3 nhất trí.
Nghị án kết thúc hồi 08 giờ 35 phút ngày 14 tháng 7 năm 2020. Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
THÀNH VIÊN HĐXX
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒ Phạm Quang Đôn
Lò Thị Dỉnh
Vũ Thị Nhung TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH ĐIỆN BIÊN
Số: 56/2020/HSST
TRÍCH LỤC BẢN ÁN HÌNH SỰ
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 56/2020/HSST ngày 14 tháng 7 năm 2020 của Toà án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên đối với bị cáo:
Họ và tên: Lữ Văn D; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; sinh ngày: 15/10/1959 tại Thanh Hóa; nơi cư trú: Số nhà 22, tổ dân phố 4, phường Nam Thanh, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 07/10; con ông: Lữ Đông Thành (đã chết) và bà Phạm Thị Chiểu (đã chết); vợ: Hoàng Thị Hà.
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ
ĐÃ QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Lữ Văn D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS: Xử phạt bị cáo 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 18/3/2020.
3. Vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1 và điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu để hủy 0,17 gam Methamphetamine và hai mảnh nilon đã niêm phong.
4. Án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/7/2020). Nếu những người này vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Vũ Thị Nhung
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH ĐIỆN BIÊN
Số: 56/TB-TA
Điện Biên Phủ, ngày 14 tháng 7 năm 2020
THÔNG BÁO
KẾT QUẢ XÉT XỬ SƠ THẨM
Kính gửi: UBND phường Nam Thanh, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên
Ngày 16/01/ 2020 Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên, tỉnh Điện Biên đã xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đã thụ lý số 51/2020/HSST ngày 28/5/2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lữ Văn D; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; sinh ngày: 15/10/1959 tại Thanh Hóa; nơi cư trú: Số nhà 22, tổ dân phố 4, phường Nam Thanh, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 07/10; con ông: Lữ Đông Thành (đã chết) và bà Phạm Thị Chiểu (đã chết); vợ: Hoàng Thị Hà.
Tại bản án số 56/2020/HSST ngày 14 tháng 7 năm 2020 Hội đồng xét xử sơ thẩm đã quyết định:
1. Tuyên bố: 1. Tuyên bố: Bị cáo Lữ Văn D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS: Xử phạt bị cáo 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 18/3/2020.
3. Vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1 và điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu để hủy 0,17 gam Methamphetamine và hai mảnh nilon đã niêm phong.
4. Án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/7/2020).
Căn cứ vào Điều 262 Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên thông báo cho chính quyền xã, phường nơi bị cáo cư trú được biết.
| Nơi nhận: - Như kính gửi; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Vũ Thị Nhung |