- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2020/HSST Ngày: 29/09/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lƣơng Anh Xuân.
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hồ Trung Huyến.
Ông Nguyễn Bá Thảo.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: ông Vũ Đức Tính - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 09 năm 2020 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2020/TLST-HS ngày 11 tháng 09 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 09 năm 2020 đối với bị cáo:
Trƣơng Văn L – Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 23 tháng 03 năm 1973; Nơi ĐKNKTT và chổ ở hiên nay: Làng Trung Ch, xã Nghĩa L, huyện Nghĩa Đ, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Thổ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trương Văn L (đã chết) và con bà: Lê Thị V (đã chết). Vợ: Lê Thị Nh – sinh năm 1975 con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 1997 và nhỏ nhất sinh năm 2006. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Năm 2012 bị Chủ tịch UBND huyện Nghĩa Đàn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Năm 2014 bị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn xử phạt 04 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc”. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/06/2020 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trương Văn L là người nghiện chất ma túy, thường xuyên phải sử dụng ma túy để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân. Do Trương Văn L biết tại khu vực ngã ba Bãi Trành thuộc xã Bãi Tr, huyện Như Xuân, Thanh Hóa có một người phụ nữ giới thiệu tên M bán ma túy nên vào khoảng 10 giờ ngày 04/06/2020, Trương Văn L điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu sơn đen - trắng, mang biển kiểm soát 37G1-679.35 đi đến khu vực ngã ba Bãi Tr thuộc xã Bãi Tr, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Khi đến nơi L gặp người phụ nữ tên M, khoảng 32 tuổi, cao khoảng 1,55m, mặc một chiếc áo khoác nắng có hoa màu trắng. L hỏi mua ma túy của người phụ nữ này với số tiền 400.000 đồng thì người này đồng ý. Trương Văn L đưa cho người phụ nữ trên số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) thì người phụ nữ đó đưa lại cho L một gói ma túy được gói bằng mảnh giấy màu trắng, mặt ngoài có các dòng kẻ ngang. Sau khi mua được ma túy L cầm gói ma túy tại lòng bàn tay trái rồi điều khiển chiếc xe máy về huyện Nghĩa Đ, tỉnh Nghệ An để tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi Trương Văn L đi đến khu vực mỏ đá thuộc khu vực xóm Bình Ng, xã Nghĩa B, huyện Nghĩa Đ thì bị lực lượng Công an huyện Nghĩa Đ kiểm tra, bắt quả tang. Khi bị bắt quả tang Trương Văn L đã vứt gói ma túy đang cầm tại lòng bàn tay trái xuống mặt đường cạnh vị trí L dừng xe. Công an huyện Nghĩa Đ đã phát hiện và thu giữ trên mặt đường tại vị trí Trương Văn L dừng xe 01 (một) gói Hêrôin được gói bằng mảnh giấy màu trắng, mặt ngoài có các dòng kẻ ngang.
Ngày 05/06/2020 cơ quan điều tra Công an huyện Nghĩa Đ đã lấy mẫu vật thu giữ của Trương Văn L trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Nghệ An giám định. Tại bản kết luận giám định số 778/KL-PC09(Đ2-MT) ngày 08/06/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An, kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Trương Văn L gửi tới giám định là chất ma túy (Hêrôin), có tổng khối lượng là 0,16 gam.
Bản cáo trạng số 57/CT-VKS-NĐ ngày 11 tháng 09 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn đã truy tố bị cáo Trương Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Đối với người phụ nữ tên M đã bán số ma túy trên cho Trương Văn L do chưa xác minh được danh tính, lai lịch nên không có cơ sở để xử lý.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viên kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã kết luận. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 và điều 38 - Bộ luật hình sự, mức hình phạt đối với bị cáo Trương Văn L từ 15 đến 18 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung; về vật chứng đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi lấy mẫu đi giám định và bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận đúng như nội dung bản cáo trạng quy kết và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nghĩa Đàn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với vật chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đã xác định vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 04/06/2020, tại khu vực mỏ đá thuộc xóm Bình Ng, xã Nghĩa B, huyện Nghĩa Đ, tỉnh Nghệ An, Trương Văn L đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 (một) gói ma túy (Hêrôin), với tổng khối lượng là 0,16 gam (không phẩy mười sáu gam) nhằm mục đích để sử dụng thỏa mãn cho nhu cầu bản thân. Hành vi của bị cáo thực hiện đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Trương Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 - Bộ luật hình sự. Đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo.
Hành vi phạm tội của bị cáo không những đã xâm phạm đến chính sách quản lý Nhà nước về các chất ma túy mà còn ảnh hưởng lớn đến an ninh trật tự tại địa phương, do đó cần xét xử nghiêm để phòng ngừa chung.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy cũng được xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, kết hợp với việc xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy cần áp dụng hình phạt tù, có thời hạn đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới có đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
Về biện pháp ngăn chặn: Cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, cơ quan công an đã thu giữ 01 gói ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nghĩa Đàn tiến hành lấy mẫu gửi đi giám định là 0,08 gam, số còn lại có trọng lượng là 0,08 gam (ma túy) là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn. Nay cần tịch thu tiêu hủy, theo quy định tại khoản 2 điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Trương Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và điều 38 - Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Trương Văn L 18 (Mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 04/06/2020.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 - Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi lấy mẫu đi giám định, đựng trong phong bì thư hình chữ nhật có đóng dấu niêm phong thu giữ của bị cáo Trương Văn Luyện, chi tiết được thể hiện tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/09/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn.
- Về án phí: Áp dụng điều 136 - Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trương Văn L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Nghĩa Đàn; - Công an huyện Nghĩa Đàn; - Chi cục THADS huyện Nghĩa Đàn; -Thông báo cho UBND cấp xã (phường) nơi b/c cư trú biết; - Lưu HS. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lƣơng Anh Xuân |