vanban.org

Bản án 56/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 01/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thị Tphạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt Vũ Thị T 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 09/3/2020). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Vũ Thị T. Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an thành phố Sơn La dán kín bằng giấy niêm phong số 003668. Mặt trước phong bì ghi: “Vật chứn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Thị T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thị Tphạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SƠN LA
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2020/HS-ST
Ngày 01/6/2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lò Thị Hà và ông Vũ Duy Khương.

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Hằng, Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Trần Diệu Linh, Kiểm sát viên.

Trong các ngày 27/5/2020 và 01/6/2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2020/TLST-HS ngày 08/5/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2020/QĐXXST-HS ngày 15/5/2020 đối với bị cáo:

Vũ Thị T, sinh năm 1953 tại xã M, huyện M, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Tổ 5, phường Q, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn L và bà Lương Thị T (tên gọi khác: Lương Thị C); bị cáo có chồng là Đỗ Văn N và có 04 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/3/2020 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 16 giờ ngày 09/3/2020, tổ công tác Công an phường Q làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 4, phường Q, thành phố Sơn La bắt quả tang Vũ Thị T có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa chất cục, bột màu trắng (T lấy trong túi áo khoác bên trái đang mặc giao nộp và khai nhận là Heroine của T, cất giữ để sử dụng).

- 01 gói nilon mầu trắng bên trong có 01 gói nilon mầu trắng chứa chất cục bột mầu trắng và 03 gói nilon mầu xanh chứa các viên nén hình tròn mầu hồng. (T lấy trong túi áo khoác bên trái đang mặc giao nộp, khai nhận là Heroine và hồng phiến của T, cất giữ để sử dụng).

Ngày 09/3/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La thành lập Hội đồng bóc, mở niêm phong, cân tịnh vật chứng và lấy mẫu trưng cầu giám định. Kết quả cân tịnh: Số cục bột màu trắng trong gói nilon màu xanh thứ nhất có khối lượng 0,22 gam, lấy 0,05 gam (ký hiệu T1) làm mẫu trưng cầu giám định. Số cục bột màu trắng trong gói nilon màu trắng thứ hai có khối lượng 0,02 gam, lấy toàn bộ 0,02 gam (ký hiệu T3) làm mẫu trưng cầu giám định. Gói nilon mầu xanh thứ nhất có 05 viên nén hình tròn màu hồng có khối lượng 0,51 gam, lấy 03 viên có khối lượng 0,3 gam (ký hiệu T5) làm mẫu trưng cầu giám định. Gói nilon mầu xanh thứ hai có 05 viên nén hình tròn màu hồng có khối lượng 0,51 gam, lấy 03 viên có khối lượng 0,3 gam (ký hiệu T7) làm mẫu trưng cầu giám định. Gói nilon mầu xanh thứ ba có 01 viên nén hình tròn màu hồng có khối lượng 0,1 gam, lấy 01 viên có khối lượng 0,1 gam (ký hiệu T9) làm mẫu trưng cầu giám định.

Tại Kết luận giám định số 476 ngày 15/03/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu T1, T3 là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là: T1 = 0,05 gam, T3 = 0,02 gam. Mẫu gửi giám định kí hiệu T5, T7, T9 là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là: T5 = 0,30 gam, T7 = 0,30 gam, T9 = 0,10 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,12 gam; loại Methamphetamine và 0,24 gam; loại Heroine.

Quá trình điều tra, Vũ Thị T khai nhận: Khoảng 05 giờ ngày 09/3/2020, Vũ Thị T đi bộ từ nhà tại tổ 5, phường Q, thành phố Sơn La đến khu vực Trường chính trị tỉnh Sơn La thuộc tổ 4, phường Q, thành phố Sơn La tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, T gặp và hỏi mua được của một nam giới không quen biết 02 gói Heroine và 03 gói hồng phiến, giá 300.000 đồng. T cất số ma túy vừa mua được vào túi áo khoác phía trước bên trái đang mặc, đi bộ về nhà. Đến 16 giờ cùng ngày, T mang số ma túy trên đi ra chợ thuộc tổ 4, phường Q, thành phố Sơn La bán rau thì bị phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Đối với người bán ma túy cho Vũ Thị T: Do T không biết họ tên, địa chỉ, ngoài lời khai của Tkhông có tài liệu, chứng cứ nào khác để điều tra, xử lý.

Bản cáo trạng số 89/CT-VKSTP ngày 07/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố Vũ Thị T về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Tuyên bố: Vũ Thị T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Vũ Thị T từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an thành phố Sơn La dán kín bằng giấy niêm phong số 003668. Mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Vũ Thị T- Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bắt ngày 09/3/2020. Gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 04 mảnh nilon màu xanh, 02 mảnh nilon màu trắng; mẫu lưu T2=0,17 gam; T6=0,21 gam; T8=0,21 gam”.

3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, nhất trí với cáo trạng truy tố và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt tù và không áp dụng hình phạt bổ sung, không đề nghị gì về án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về quá trình tiến hành tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi và trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Xét lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, sơ đồ vị trí bắt giữ; vật chứng đã thu giữ; biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng, lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến. Có đủ căn cứ khẳng định: Ngày 09/3/2020, Vũ Thị T đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 1,12 gam Methamphetamine và 0,24 gam Heroine để sử dụng. Tổng khối lượng hai chất ma túy là 1,36 gam. Hành vi của bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố bị cáo về tội danh, điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo xâm phạm chế độ quản lý chất ma tuý của Nhà nước, thuộc loại tội phạm nghiêm trọng. Bị cáo nhận thức rõ hành vi vi phạm của mình nhưng vẫn thực hiện. Cần xử phạt nghiêm khắc nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có bố đẻ là thương binh, được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất. Bị cáo có chồng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba. Cần giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[3] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo không có tài sản, không có thu nhập ổn định, xét không áp dụng hình phạt bổ sung.

[4] Về vật chứng của vụ án, căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đối với 01 phong bì niêm phong dán kín bằng giấy niêm phong số 003668. Mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Vũ Thị T-Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bắt ngày 09/3/2020. Gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 04 mảnh nilon màu xanh, 02 mảnh nilon màu trắng; mẫu lưu T2=0,17 gam; T6=0,21 gam; T8=0,21 gam”. Xét là chất ma túy và đồ vật liên quan, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thị Tphạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt Vũ Thị T 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 09/3/2020). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Vũ Thị T.

2. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an thành phố Sơn La dán kín bằng giấy niêm phong số 003668. Mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Vũ Thị T- Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bắt ngày 09/3/2020. Gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 04 mảnh nilon màu xanh, 02 mảnh nilon màu trắng; mẫu lưu T2=0,17 gam; T6=0,21 gam; T8=0,21 gam”. Mặt sau phong bì dán giấy niêm phong số 003668, trên giấy dán niêm phong có 01 hình dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La và chữ ký, họ tên của thành phần tham gia niêm phong và dòng chữ, số, “Cơ quan CSĐT – CATP Sơn La hồi 22 giờ 00 ngày 09/3/2020 tại CATP Sơn La, tỉnh Sơn La”, kiểm tra niêm phong còn nguyên vẹn.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/5/2020 giữa Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Vũ Thị T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ