vanban.org

Bản án 56/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Tuyên án 23/10/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Văn V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn V 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/7/2020. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÝ NHÂN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2020/HS-ST
Ngày: 23 - 10 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đỗ Quốc Huy.

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chu Nhương và ông Phạm Quốc Tuấn.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Thành Trung - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Trương Hoàng Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 10 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2020/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2020/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2020, đối với bị cáo:

Lê Văn V, sinh năm 1979 tại Hà Nam; nơi cư trú: Thôn 3, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T (đã chết) và bà Lê Thị Q; có vợ là Đặng Thị H và có 02 con, con lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2013 bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng, đến ngày 26/12/2015 chấp hành xong; bị tạm giữ từ ngày 30/7/2020 và chuyển tạm giam từ ngày 04/08/2020 đến nay; có mặt.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn Q; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 05 phút ngày 30/7/2020, tại thôn 3, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam. Tổ công tác Công an huyện Lý Nhân phối hợp với Công an xã C kiểm tra hành chính đối với Lê Văn V phát hiện thu giữ trong lòng bàn tay trái của V 01 đoạn ống nhựa màu tím, có sọc màu trắng, được hàn kín hai đầu bên trong chứa chất bột dạng cục, màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01, V khai là ma túy mua về để sử dụng. Ngoài ra còn thu giữ của V 01 xilanh nhựa đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT02.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Văn V không thu giữ tài liệu, đồ vật gì liên quan đến vụ án.

Bản kết luận giám định số 139/PC09-MT ngày 03/8/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam, kết luận: Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,212 gam, loại Heroine; 01 xilanh nhựa màu trắng, loại 03m/cc có kim tiêm và nắp đậy trong phong bì ký hiệu QT02 gửi giám định có bám dính ma túy loại Heroine.

Bản cáo trạng số 57/CT-VKSLN ngày 30/9/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đã truy tố Lê Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo điểm c khoản 1 Điều 24 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 24 ; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn V từ 24 đến 30 tháng tù và hướng xử lý vật chứng, án phí vụ án.

- Bị cáo Lê Văn V khai nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý nhân đã truy tố; không có ý kiến tranh luận, bào chữa hay khiếu nại gì và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về tội danh: Lời khai của bị cáo Lê Văn V tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu được, kết luận giám định cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Do đó đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 05 phút ngày 30/7/2020 khu vực tại thôn 3, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam. Tổ công tác Công an huyện Lý Nhân phối hợp với Công an xã C bắt quả tang Lê Văn V đang cất giữ trong lòng bàn tay trái 01 gói ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,212 gam để sử dụng.

Hành vi nêu trên của Lê Văn V đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 24 Bộ luật hình sự.

Quan điểm kết tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đối với bị cáo đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Văn V là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh trật tự địa phương gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Vì vậy phải xử phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới cải tạo được bị cáo, đồng thời có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung.

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu là đối tượng nghiện ma tuý, đã bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có cậu ruột là Liệt sĩ Lê Văn H đã hi sinh trong sự nghiệp chống Mỹ, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội không nhằm mục đích thu lợi nên không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng hoàn lại sau giám định không có giá trị sử dụng, tịch thu và tiêu hủy.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện theo quy định của pháp luật.

Các vấn đề khác: Về nguồn gốc số Heroine đã thu giữ, Lê Văn V khai nhận mua của một người lạ mặt ở khu vực chợ Trần Xá, xã Nguyên Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam với giá 200.000 đồng về sử dụng thì bị bắt quả tang. Ngoài lời khai của bị cáo không còn tài liệu gì nên không có cơ sở để điều tra làm rõ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 24 ; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Lê Văn V 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/7/2020.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu và tiêu huỷ: 02 phong bì niêm phong dán kín số 139/PC09-MT của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam, ghi “mẫu vật hoàn trả QT01, QT02”.

(Các vật chứng nêu trên có đặc điểm, tình trạng, số hiệu được ghi trong biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 01/10/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện Lý Nhân và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lý Nhân).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Văn V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của các Điều 6,7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ