vanban.org

Bản án 56/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 14/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn Th 18 (mươi tám) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 14/4/2020). Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Th - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H
TỈNH THANH HÓA
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2020/HS-ST
Ngày 14-8-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁNNHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Xuân Thư

Ông Đỗ Thế Huân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Binh – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Long - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2020/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn Th, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1987 tại xã Ph, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn X, xã Ph, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T và bà Phùng Thị K; Có vợ là Bùi Thị L và có 03 con; Tiền án: 01 tiền án, ngày 15/5/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Q, thành phố Hà Nội xử phạt 16 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 14/4/2020 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa: Bà Phạm Thị Ch – Trợ giúp viên pháp lý, trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa (có mặt).

Người làm chứng:

- Ông Nguyễn Bá N, sinh năm 1963 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện H, Thanh Hóa.

- Anh Chu Văn L, sinh năm 1970 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn L, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1966 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 14 tháng 4 nâm 2020, Trần Văn Th đi nhờ xe của một

người đi đường đến khu vực cầu N, thuộc địa phận Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, mua của một người đàn ông không quen biết một gói ma túy với giá 200.000đ để sử dụng. Sau đó Th đi nhờ xe về đến xã N, huyện H, vào một hiệu thuốc tây mua 01 lọ nước cất và 01 xi lanh nhựa rồi tìm địa điểm để sử dụng ma túy. Đến 17 giờ cùng ngày, khi đến khu vực cồn Ng thuộc Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa thì bị Công an xã Đ phát hiện và bắt quả tang Trần Văn Th đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại chỗ, thu giữ trong túi quần trước bên phải của Th 01 gói giấy ô ly màu trắng, kích thước (3,5 x 4) xm bên trong có chứa chất bột màu trắng ngà; 01 xi lanh nhựa; 01 lọ nước cất và 01 thẻ căn cước công dân mang tên Trần Văn Th. Công an xã Đ đã tiến hành lập biên bản, niêm phong vật chứng, chuyển hồ sơ, người bị bắt cùng vật chứng cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H để trưng cầu giám định và tiến hành điều tra theo quy định.

Tại kết luận giám định số 1172/PC09 ngày 20/4/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa xác định: Chất bột màu trắng ngà thu giữ trong người Trần Văn Th là ma túy, có tổng khối lượng 0,121g, loại Heroine.

Quá trình điều tra, Th từng khai nhận mua ma túy của anh Nguyễn Đăng S, thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Cơ quan điều tra Công an huyện H đã tiến hành xác minh tại thời điểm Th khai mua ma túy của anh S, anh S đang điều trị tại Bệnh Viện đa khoa H. Sau đó Th đã khai lại là mua ma túy của một người không quen biết tại khu vực cầu N, thành phố T, phù hợp với lời khai ban đầu và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được.

Vật chứng của vụ án gồm: Toàn bộ số ma túy loại Heroine còn lại sau giám định được đựng trong phong bì niêm phong; 01 xi lanh nhựa; 01 lọ nước cất và 01 căn cước công dân mang tên Trần Văn Th. Hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H theo biên bản giao nhận vật chứng số 57/BBGN ngày 23/7/2020.

Cáo trạng số 59/CTr-VKSHH ngày 22/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo Trần Văn Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn Th khai nhận toàn bộ hành vi đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáoTrần Văn Th từ 30 tháng đến 36 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không phạt bổ sung đối với bị cáo

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định; 01 lọ nước cất và 01 xi lanh nhựa. Trả lại cho bị cáo 01 thẻ Căn cước công dân mang tên Trần Văn Th.

Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo, tại phiên tòa bị cáo cũng đã xin được miễn án phí nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo tranh luận: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo thuộc hộ cận nghèo, bố mẹ đều bệnh nặng, con nhỏ, bản thân là lao động chính trong gia đình nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, xử phạt bị cáo từ 17 tháng đến 19 tháng tù.

Về án phí: Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Ngày 14/4/2020,Trần Văn Th đã mua 0,121g ma túy loại Heroinevề sử dụng và bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố. Hành vi của bị cáo thể hiện rõ sự coi thường pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội nên cần lên cho bị cáo mức hình phạt tương xứng, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức giáo dục, cải tạo, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo có một tiền án nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, cần giảm cho bị cáo một phần hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, gia đình thuộc hộ cận nghèo nên không phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành, 01 xi lanh nhựa, 01 lọ nước cất không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. 01 thẻ Căn cước công dân là giấy tờ tùy thân của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.

Quá trình điều tra, bị cáo từng khai mua ma túy của anh Nguyễn Đăng S,Cơ quan điều tra Công an huyện H đã tiến hành xác minh tại thời điểm bị cáo khai mua ma túy của anh S, anh S đang điều trị tại Bệnh Viện đa khoa H. Sau đó bị cáo đã khai lại là mua ma túy của một người không quen biết tại khu vực cầu N, thành phố T, phù hợp với lời khai ban đầu của bị cáo và các tại liệu chứng cứ đã thu thập được, đủ cơ sở xác định anh S không có liên quan đến vụ án này, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Trong vụ án này, Trần Văn Th khai báo mua số ma túy trên của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn Th 18 (mươi tám) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 14/4/2020).

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định; 01 xi lanh nhựa; 01 lọ nước cất. Trả lại cho bị cáo 01 thẻ Căn cước công dân mang tên Trần Văn Th. Toàn bộ vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H theo Biên bản giao nhận vật chứng số 57/BBGN ngày 23/7/2020.

Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Trần Văn Th được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ