- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN ĐỨC V - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2020/HS-ST Ngày: 19-6-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hùng Cường.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Chí Cường
2. Bà Đặng Thị Bích Loan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thuý Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Bình – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2020 trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 54/2020/HSST ngày 20 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2020/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức V, tên gọi khác: B, sinh năm 1984 tại Long An. ĐKTT: Số ½ B, khu phố 2, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Nhân Vă (đã chết) và bà Huỳnh Thị M (đã chết), bản thân chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam từ ngày 03-01-2020 cho đến nay, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Lê Quang T, sinh năm 1985
ĐKTT: Ấp 4, xã L, huyện C, tỉnh Long An (vắng mặt).
2. Võ Thanh T, sinh năm 1993
ĐKTT: Ấp 4, xã T, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt).
3. Kiều Duy D, sinh năm 1993
ĐKTT: Số 67 N, khu phố 8, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt).
4. Trần Thụy Ngọc B, sinh năm 1991
ĐKTT: Ấp 2, xã P, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 03 giờ ngày 26/4/2019, Nguyễn Đức V đang ngủ tại nhà thì có người bạn tên là Tân Nhiễm (không rõ họ tên và địa chỉ) đến nhà đưa cho V 01 gói ma túy đá nhờ V cất dùm, V đồng ý. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày V đem theo gói ma túy đá đến tiệm game Tuấn Tú, địa chỉ khu phố 1, thị trấn B, huyện B để trả lại cho Tân Nhiễm nhưng không gặp. Tại đây, V có gặp mấy người bạn gồm: Lê Quang T, Võ Thanh T, Kiều Duy D và Trần Thụy Ngọc B là bạn gái của Tuấn, V có mời 04 người này đến quán cà phê Đ để nói chuyện. Do Lê Quang T cần thuê nhà trọ để ở nên cả nhóm đi tìm nhà trọ nhưng không có, sau đó V cùng cả nhóm gồm 04 người đến nhà nghỉ M thuộc ấp V, thị trấn B, huyện B để thuê phòng số 04 để nghỉ ngơi. Tại đây, V liên hệ với một người thanh niên (không rõ họ tên và địa chỉ) để mua 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá với giá 30.000đ và lấy gói ma túy đá của Tân Nhiễm gửi đem ra 01 ít cho cả nhóm sử dụng, riêng Bích không sử dụng. Khi cả nhóm đang sử dụng ma túy đá tại phòng số 04 thì bị Lực lượng Công an thị trấn Bến Lức kiểm tra phòng phát hiện thu giữ tang vật gồm: 01 chai bằng nhựa, nắp chai màu đỏ, trên nắp chai có gắn một đoạn ống thủy tinh (nỏ), một đoạn ống hút bằng nhựa màu xanh và 01 gói ny lon màu trắng, có kích thước 3,5cm x 3cm, được hàn kín, bên trong gói ny lon có chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng dạng rắn, ký hiệu (M) được niêm phong có chữ ký của Nguyễn Đức V.
Tại Kết luận giám định số 2301/C09B ngày 06/5/2019 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Gói ký hiệu M: Tinh thể bột màu trắng đựng trong 01 gói ny lon gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 1,4794 gam, loại Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số 52/CT-VKSBL ngày 13-4-2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức truy tố Nguyễn Đức V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức V hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội bị cáo thực hiện đúng như nội dung cáo trạng đã nêu. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức truy tố bị cáo Nguyễn Đức V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội đúng pháp luật, không oan.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức trong phần luận tội đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hiện hoàn cảnh gia đình bị cáo gặp khó khăn nên xem xét giảm cho bị cáo một phần về hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức V từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với Lê Quang T, Võ Thanh T và Kiều Duy D có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cùng với V vào ngày 26/4/2019 đã bị Công an thị trấn Bến Lức ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 750.000đ/người về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp.
Đối với Trần Thụy Ngọc B không tham gia sử dụng ma túy cùng với V, Tuấn, Tân và Thanh mà khai nhận có sử dụng ma túy trước đó tại biên bản xét nghiệm chất ma túy của Công an thị trấn Bến Lức ngày 26/4/2019, Bích dương tính với chất ma túy nên bị Công an thị trấn Bến Lức ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 750.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp.
Đối với người thanh niên tên Tân Nhiễm (không rõ họ tên và địa chỉ) là người đưa ma túy cho V cất giữ dùm và người thanh niên (không rõ họ tên và địa chỉ) bán bộ dụng cụ sử dụng ma túy cho V, hiện Cơ quan điều tra không xác định được nhân thân và địa chỉ, nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau là phù hợp.
Về vật chứng:
- 01 gói niêm phong ghi vụ số 2301/gói ký hiệu M/C09B có chữ ký của Hà Thị Phước Hiền (người chứng kiến) và Phạm Hoàng Khanh (cán bộ điều tra), trong có tinh thể màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng là 1,0924 gram là vật chứng của vụ án nên đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy.
- 01 chai bằng nhựa, nắp chai màu đỏ, trên nắp chai có gắn một doạn ống thủy tinh (nỏ), một đoạn ống hút bằng nhựa màu xanh, đây là dụng cụ bị cáo dùng để sử dụng ma túy nên đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy.
(Vật chứng nêu trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Lức đang tạm giữ).
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã nêu. Bị cáo không tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bến Lức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và cũng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu, Bản kết luận giám định chất ma túy và các chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được thẩm tra tại phiên tòa có đủ cơ sở khẳng vào khoảng 16 giờ 45 phút ngày 26/4/2019 lực lượng Công an thị trấn Bến Lức kiểm tra hành chính tại nhà nghỉ M địa chỉ đường số 13, khu dân cư 135, ấp V, thị trấn B, huyện B phát hiện tại phòng số 04 của nhà nghỉ có Nguyễn Đức V, Lê Quang T, Võ Thanh T, Kiều Duy D đang sử dụng trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra phát hiện và thu giữ của Nguyễn Đức V 01 gói tinh thể bột màu trắng đựng trong 01 gói ny lon có khối lượng: 1,4794 gam, loại Methamphetamine và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá. Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Đức V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, do đó cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và đúng pháp luật không oan.
Hành vi trái pháp luật của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo cũng thừa biết ma tuý là chất độc hại, gây nghiện làm tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần và thể chất con người nên Nhà nước thống nhất quản lý và nghiêm cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng vì muốn thỏa mãn cơn nghiện nên bị cáo cất giấu trái phép chất ma túy để sử dụng, chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, xâm phạm đến sức khoẻ và sự phát triển nòi giống của dân tộc, là tác nhân gây ra bệnh HIV, gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Do đó cần áp dụng hình phạt buộc cách ly xã hội đối với bị cáo trong thời gian nhất định để giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hiện hoàn cảnh gia đình bị cáo gặp khó khăn nên xem xét giảm cho bị cáo một phần về hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo có điều kiện kinh tế còn khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Đối với Lê Quang T, Võ Thanh T và Kiều Duy D có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cùng với V vào ngày 26/4/2019 đã bị Công an thị trấn Bến Lức ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 750.000đ/người về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp nên không xét đến.
Đối với Trần Thụy Ngọc B không tham gia sử dụng ma túy cùng với V, Tuấn, Tân và Thanh mà khai nhận có sử dụng ma túy trước đó tại biên bản xét nghiệm chất ma túy của Công an thị trấn Bến Lức ngày 26/4/2019, Bích dương tính với chất ma túy nên bị Công an thị trấn Bến Lức ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 750.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp.
Đối với người thanh niên tên Tân Nhiễm (không rõ họ tên và địa chỉ) là người đưa ma túy cho V cất giữ dùm và người thanh niên (không rõ họ tên và địa chỉ) bán bộ dụng cụ sử dụng ma túy cho V, hiện Cơ quan điều tra không xác định được nhân thân và địa chỉ, nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau là phù hợp nên không xét đến.
Đối với việc Nguyễn Đức V, Trần Hải Đăng và Sok Thanh Tâm sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà bà Phạm Thị Mười thì bà Mười không biết và không có cho mượn địa điểm sử dụng, nên Cơ quan điều tra Công an huyện Bến Lức không xử lý là phù hợp nên không xét đến.
Về vật chứng:
- 01 gói niêm phong ghi vụ số 2301/gói ký hiệu M/C09B có chữ ký của Hà Thị Phước Hiền (người chứng kiến) và Phạm Hoàng Khanh (cán bộ điều tra), trong có tinh thể màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng là 1,0924 gram Methamphetamine là vật chứng của vụ án nên áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy.
- 01 chai bằng nhựa, nắp chai màu đỏ, trên nắp chai có gắn một doạn ống thủy tinh (nỏ), một đoạn ống hút bằng nhựa màu xanh, đây là dụng cụ bị cáo dùng để sử dụng ma túy nên áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy.
(Vật chứng nêu trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Lức đang tạm giữ).
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức V 01 (một) năm tù, thời gian tù tính từ ngày 03-01-2020.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tiếp tục tạm giam các bị cáo Nguyễn Đức V trong thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày 19-6-2020 để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy:
- 01 gói niêm phong ghi vụ số 2301/gói ký hiệu M/C09B có chữ ký của Hà Thị Phước Hiền (người chứng kiến) và Phạm Hoàng Khanh (cán bộ điều tra), trong có tinh thể màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng là 1,0924 gram Methamphetamine.
- 01 chai bằng nhựa, nắp chai màu đỏ, trên nắp chai có gắn một doạn ống thủy tinh (nỏ), một đoạn ống hút bằng nhựa màu xanh
(Vật chứng hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Lức đang tạm giữ).
Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Đức V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Long An; - Sở tư pháp tỉnh Long An; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức; - Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Bến Lức; - Nhà tạm giữ Công an huyện Bến Lức; - Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Lức; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Lê Hùng Cường |