vanban.org

Bản án 56/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 14/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thị Thu H phạm tội: Đánh bạc.

Xử phạt bị cáo như sau: Phạt tiền bị cáo Vũ Thị Thu H 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước. 2/ Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Vũ Thị Thu H phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thị Thu H phạm tội: Đánh bạc.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 35 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2019/HS-ST
Ngày: 14-11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Tú

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Sơn và ông Nguyễn Văn Đang

- Thư ký Tòa án: Ông Phạm Việt Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2019/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2019/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Vũ Thị Thu H – Sinh ngày 08 tháng 9 năm 1972 tại tỉnh Lạng Sơn; Nơi cư trú: Tổ 20, phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Xuân Đ và bà Tạ Thị H; bị cáo có chồng và 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 52/2019/HSST-LCĐKNCT ngày 23 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Trần Văn C – Sinh năm 1993; Vắng mặt. Địa chỉ: Thôn H, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình;

- Anh Lại Thế Nh – Sinh năm 1998; Vắng mặt. Địa chỉ: Thôn H, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình;

- Người làm chứng: Anh Dương Văn Th - sinh năm: 1980; (Vắng mặt).

- Người chứng kiến: Ông Bùi Ngọc Th – Sinh năm 1955 ; (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Thị Thu H là lao động tự do; H tự đứng ra làm chủ lô, đề ghi bán các số lô, số đề cho khách theo tỷ lệ, đối với số đề người người mua 1.000 đồng, nếu trúng H phải trả 70.000 đồng; số lô người mua 01 điểm là 23.000 đồng, nếu trúng H phải trả 80.000 đồng. H chuẩn bị các mảnh giấy hình chữ nhật có kích thước mầu sắc khác nhau làm cáp đề, 01 tờ lịch treo tường, 01 bút bi để ghi chép các số lô, số đề khách mua làm căn cứ đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng trong ngày. Chiều ngày 08/9/2019, H ra khu vực vỉa hè thuộc tổ 21, phường N, thành phố T ngồi trên chiếc ghế đá ở vỉa hè bán số lô, số đề cho khách. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 08/9/2019 có người phụ nữ tên Th đến mua một số đề 72 với số tiền 50.000 đồng, tiếp sau đó có một người đàn ông không quen biết đến mua một số đề 79 với số tiền 60.000 đồng. H nhận đủ tiền và lấy cáp đề ghi cho Th và người đàn ông, sau đó H ghi chép số đề vừa bán được vào góc phải của tờ lịch để theo dõi. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày có Trần Văn C và Lại Thế Nh đến hỏi mua số lô của H. C mua số lô 13, 45 mỗi số 50 điểm, với tổng số tiền là 2.300.000 đồng. Nh mua số lô 54, 73 mỗi số 50 điểm và số lô 32 (40 điểm), với tổng số tiền là 3.220.000 đồng (do Nh mua nhiều điểm lô nên H bớt lại cho Nh số tiền 20.000 đồng). H nhận số tiền 2.300.000 đồng của C và nhận số tiền 3.200.000 đồng của Nh, rồi H ghi các số lô Nh đã mua vào cáp đề là mảnh giấy có dòng kẻ ngang, kích thước (7,5 x 10,5) cm và ghi các số lô C mua vào cáp đề là mảnh giấy mầu vàng, kích thước (7,5 x 5) cm. H chưa kịp ghi các số lô đã bán cho C và Nh vào tờ lịch để theo dõi thì bị tổ công tác Công an thành phố T đến kiểm tra phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tại chỗ Công an thu giữ: 03 tờ cáp đề, 01 tờ lịch, 01 bút bi nhãn hiệu Matixs, mực mầu xanh và số tiền 7.756.000 đồng, trong đó số tiền 5.500.000 đồng là tiền H bán số lô cho C và Nh, số tiền 110.000 đồng là tiền H bán cho hai người khách qua đường, số tiền còn lại 2.146.000 đồng là tiền cá nhân của H không liên quan đến hành vi phạm tội. Ngoài ra còn thu giữ của Lại Thế Nh số tiền 20.000 đồng do H bớt lại trong khi mua số lô.

Quá trình điều tra, bị cáo Vũ Thị Thu H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Cáo trạng số 59/CT – VKS - TPTĐ ngày 21 tháng 10 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Vũ Thị Thu H ra trước Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp để xét xử về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tại phiên tòa sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, xem xét hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vũ Thị Thu H phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i , s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 và khoản 3 Điều 35 của Bộ luật Hình sự ;

- Phạt tiền Vũ Thị Thu H từ 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) đến 25.000.000 đồng ( Hai mươi lăm triệu đồng)

- Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:

Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 5.630.000 đồng (Trong đó 5.520.000đ là tiền mà bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sử dụng vào việc đánh bạc; 110.000đ là tiền bất hợp pháp mà Vũ Thị Thu H đã bán số lô, số đề cho khách qua đường.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc bút bi vỏ màu xanh, mực màu xanh đã thu giữ của Vũ Thị Thu H sử dụng vào việc ghi số lô, số đề trong ngày 08/9/2019.

Trả lại cho bị cáo Vũ Thị Thu H số tiền 2.146.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, anh Dương Văn Th trình bày: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 08/9/2019 anh đến chỗ bạn anh là Vũ Thị Thu H đang ngồi bán xổ số tại tổ 21, phường N để ngồi chơi, anh và chị H ngồi nói chuyện được vài phút thì có hai nam thanh niên đến hỏi mua số lô của chị H, chị H đã đồng ý bán cho người thanh niên thứ nhất 140 điểm lô với số tiền là 3.200.000 đồng, bán cho người thanh niên thứ hai 100 điểm lô với số tiền là 2.300.000 đồng sau đó hai người thanh niên lấy tiền trả cho chị H và chị H đưa tờ cáp ghi các số lô cho hai người thanh niên thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Tại chỗ anh thấy hai người thanh niên giao nộp 02 tờ cáp ghi các số lô do chị H vừa đưa thu giữ của chị H 01 tờ cáp ghi số đề chị H đã bán nhưng chưa đưa cho khách, thu giữ 01 tờ lịch mà chị H đã ghi các số lô, số đề đã bán cho khách để theo dõi, 01 bút bi màu xanh, vỏ màu xanh và số tiền 7.756.000 đồng trong đó có cả số tiền mà chị H vừa bán cho hai thanh niên, sau đó Cơ quan công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với chị Vũ Thị Thu H.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi bị truy tố như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trần Văn C và anh Lại Thế Nh, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 08/9/2019, tại tổ 21, phường N, thành phố T, Vũ Thị Thu H đã có hành vi bán các số lô trái phép với tổng số tiền là 5.520.000 đồng đã phạm vào tội đánh bạc. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự “ Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Từ căn cứ trên thấy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp truy tố bị cáo Vũ Thị Thu H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng pháp luật

Hành vi phạm tội của bị cáo xảy ra tại nơi tập trung đông dân cư, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn phường N nói riêng và trên địa bàn thành phố T nói chung. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật và có mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục cải tạo bị cáo đồng thời góp phần phòng ngừa chung.

Đối với bị cáo Vũ Thị Thu H là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc nhằm mục đích tạo ra thu nhập bất chính bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do đó cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc đủ để giáo dục cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất hành vi phạm tội, số tiền mà bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ để giáo dục cải tạo bị cáo thành công dân có ích.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng”. Do áp dụng hình phạt chính đối với bị cáo là phạt tiền nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Vũ Thị Thu H.

Trong vụ án này, đối với anh Trần Văn C và anh Lại Thế Nh, chưa có tiền án, tiền sự về tội Đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. Ngày 08/9/2019 đã thực hiện hành vi đánh đánh bạc bằng hình thức mua số lô với số tiền dưới 5.000.000 đồng. Do đó hành vi của anh C và anh N chưa đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc. Công an thành phố T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh Trần Văn C và anh Lại Thế Nh là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:

Đối với 01 tờ cáp bằng giấy màu vàng và 01 tờ cáp màu trắng có ghi các số lô bằng mực bút bi màu xanh thu giữ của Trần Văn C và anh Lại Thế Nh; 01 tờ lịch mặt sau có ghi các số lô, số đề ghi bằng bút bi mực màu xanh là những vật chứng được chuyển theo hồ sơ làm căn cứ xử lý đối với bị cáo.

Đối với số tiền 5.500.000 đồng thu giữ của bị cáo và số tiền 20.000 đồng thu giữ của Lại Thế Nh đây là số tiền mà bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sử dụng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước là phù hợp với điểm b, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Đối với số tiền 110.000 đồng là tiền mà bị cáo thu được từ việc bán số lô, số đề cho khách đi đường Cơ quan điều tra không xác định được là bị cáo đã bán cho ai, số tiền này có nguồn gốc bất hợp pháp cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 (một) chiếc bút bi màu xanh, mực màu xanh không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với điểm a, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với số tiền 2.146.000 đồng Cơ quan điều tra Công an thành phố T đã thu giữ của bị cáo Vũ Thị Thu H. Quá trình điều tra xác định số tiền này là tiền hợp pháp của Vũ Thị Thu H không liên quan đến việc mua bán số lô, số đề, do vậy cần trả lại cho bị cáo Vũ Thị Thu H là phù hợp điểm a, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; Các điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

- Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

1/ Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thị Thu H phạm tội: Đánh bạc.

Xử phạt bị cáo như sau: Phạt tiền bị cáo Vũ Thị Thu H 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.

2/ Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 5.630.000 đồng (Trong đó 5.520.000đ là tiền mà bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sử dụng vào việc đánh bạc; 110.000đ là tiền bất hợp pháp mà Vũ Thị Thu H đã bán số lô, số đề cho khách qua đường).

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc bút bi vỏ màu xanh, mực màu xanh, thân bút có dòng chữ matixs đã thu giữ của Vũ Thị Thu H sử dụng vào việc ghi số lô, số đề trong ngày 08/9/2019.

Trả lại cho bị cáo Vũ Thị Thu H số tiền 2.146.000 đồng.

Những vật chứng trên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T theo giấy ủy nhiệm chi ngày 22 tháng 10 năm 2019 và biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 10 năm 2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T.

3/ Về án phí:

Buộc bị cáo Vũ Thị Thu H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ