vanban.org

Bản án 56/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 08/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 48 (Bốn mươi tám) tháng tù về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Thời hạn tạm giam là 45 (Bốn mươi lăm) kể từ ngày tuyên án (ngày 16/8/2019). -VKSND huyện Duy Xuyên Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Công T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 48 (Bốn mươi tám) tháng tù về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH Q

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 56 /2019/HSST
Ngày 08/11/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T- TỈNH Q

Thành phần hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Min

Các hội thẩm nhân dân:

1-Ông Phan Văn Hoàng.

2-Ông Tô Đình Trị.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Văn Một- Thư ký TAND huyện T

Đại diện Viên kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan- Kiểm sát viên.

Ngày 08/11/2019, tại trụ sở TAND huyện T xét xử sở thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2019/HSST ngày 05/9/2019 theo Quyết định đưa vụ án hình sự ra xét xử số 62/2019/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2019 đối với:

-Bị cáo Nguyễn Công T, sinh năm 1997 tại thị trấn H, huyện T, tỉnh Q; nơi cư trú khu phố 7, thị trấn H, huyện T, tỉnh Q; nghề nghiệp không có; trình độ học vấn 10/12; dân tộc Kinh; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Nguyễn Công S và bà Trần Thị T; vợ Châu Thị Hoành N, tiền sự không có, tiền án không; có bị cáo đang bị áp dụng biện pháp tạm giam.

-Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Bà Lê Thị Tường V, sinh năm 1999, địa chỉ thôn Đ, xã H, huyện N, tỉnh Q.

Bà Võ Thị Thủy T, sinh năm 1998, địa chỉ thôn K, xã T, huyện P, tỉnh Q.

Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1997, địa chỉ khu phố 5, thị trấn H, huyện T, tỉnh Q.

Ông Phạm Kinh K, sinh năm 1998, địa chỉ khu phố 8, thị trấn H, huyện T, tỉnh Q.

Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1991, địa chỉ khu phố 7, thị trấn H, huyện T, tỉnh Q.

Ông Võ Đình T sinh ngày 12/02/2004, địa chỉ khu phố 4, thị trấn H, huyện T, tỉnh Q.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ ngày 20/7/2019, tại phòng số 10 nhà nghỉ Mimosa xã B, Công an huyện T phát hiện 03 người đang sử dụng chất ma túy gồm: Nguyễn Công T, Võ Thị Thùy T và Lê Thị Tường V. Công an huyện T đã thu giữ trên giường ngủ phòng số 10 có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 01 chai nước lọc hiệu AQUA có chứa 2/3 lượng nước, nắp chai bị đục thủng 02 lỗ, một lỗ cắm ống nhựa hút, một lỗ cắm một nỏ thủy tinh; 01 bật lửa màu đỏ hiệu VINA; 01 gói ni lông trong suốt kích thước 1,5x0,5 cm được kèn kín ba cạnh, một cạnh hở; 01 ống hút nhựa được cắt nhọn dài 6.5cm; thu giữ trên người T 03 gói ni lông trong suốt kích thước 1,5 x 0,5 cm được kèn các cạnh, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, số tiền 700.000đ, 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen có 02 thẻ sim có số thuê bao 0938669241, 0896232188.

Quá trình điều tra, T khai nhận vào ngày 19/7/2019, T mua một gói ma túy loại đá của một người không rõ lai lịch ở khu vực chợ B, huyện Q với giá 1.000.000đ. T phân ra thành 06 gói nhỏ và đã sử dụng hết 01 gói, còn lại 05 gói cất giấu trong người. Đến khoảng 20 giờ ngày 20/7/2019, T mang 05 gói ma túy trên đến nhà nghỉ Mimosa bán cho Nguyễn Văn Q một gói giá 300.000đ. T cùng Lê Thị Tường V, Võ Thị Thủy T sử dụng 01 gói thì bị bắt quả tang, 03 gói còn lại Công an huyện T thu giữ.

Ngoài ra T còn khai nhận: Trong khoảng thời gian từ tháng 02/2019 đến ngày 20/7/2019, T nhiều lần mua ma túy tại khu vực chợ B với số tiền từ 1.000.000đ đến 1.500.000đ sau đó phân chia ra nhiều gói nhỏ để bán cho các đối tượng ở huyện T. Cụ thể:

-Bán cho Nguyễn Văn Q 03 lần: Lần 1 bán 01 gói 300.000đ, lần 2 bán 01 gói 400.000đ, lần 3 bán 01 gói giá 200.000đ.

-Bán cho Phạm Kinh K nhiều lần nhưng K chỉ nhớ 03 lần gần nhất, mỗi lần 01 gói với giá 200.000đ.

-Bán cho Võ Đình T nhiều lần nhưng T chỉ nhớ 02 lần gần nhất, một lần bán 01 gói giá 500.000đ, một lần bán 01 gói 300.000đ.

-Bán cho Nguyễn Thành T nhiều lần nhưng T chỉ nhớ 03 lần gần nhất, mỗi lần một gói với giá 300.000đ.

Tại Bản kết luận giám định số 765/C09C (Đ4) ngày 25/7/2019 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Đ xác định chất rắn màu tráng dạng tinh thể đựng trong 03 gói ni lông không màu gửi giám định là chất ma túy loại methamphetamine, có khối lượng 0,271 gam.

Tại Bản Cáo trạng số 53/CT-VKSTB ngày 03/9/2019 VKSND huyện T truy tố Nguyễn Công T về tội “Mua bán trai phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Công T từ 04 đến 05 năm tù và phạt bổ sung từ 5 triệu đồng đến 7 triệu đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Lời khai của Nguyễn Công T tại phiên tòa, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường vụ án và lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Như vậy có đủ căn cứ để kết luận: Nguyễn Công T bắt đầu sử dụng chất ma túy từ đầu năm 2019. Để có tiền mua ma túy sử dụng, trong thời gian từ tháng 02/2019 đến ngày 20/7/2019, T đã nhiều lần mua ma túy loại methamphetamine của một người không rõ lai lịch tại khu vực chợ B, huyện Q để bán có các đối tượng tại huyện T. Trong đó bán cho Nguyễn Văn Q 03 lần với số tiền 900.000đ, bán cho Phạm Kinh K 03 lần với số tiền 600.000đ, bán cho Võ Đình T 02 lần với số tiền 800.000đ và bán cho Nguyễn Thành T 03 lần với số tiền 900.000đ. Đồng thời T cất giấu trong người 03 gói thì bị bắt quả tang. Do vậy cáo trạng của VKSND huyện T truy tố Nguyễn Công T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật.

Hành vi của Nguyễn Công T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội nên cần xử lý nghiêm để giáo dục bị cáo đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm.

Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải; đã tự thú về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự .

Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng, có nhân thân tốt nên thấy cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp.

Do bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền.

–Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Trong quá trình điều tra, điều tra viên đã thực hiện các hành vi, ban hành các quyết định tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, kiểm sát viên đã thực hiện các hành vi, ban hành các quyết định tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

-Về các vấn đề khác:

Xử lý vật chứng:

-Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung màu đen của Nguyễn Công T.

-Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 3.200.000đ thu lợi bất chính từ việc bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Công T.

-Tịch thu tiêu hủy: 01 chai nước lọc hiệu AQUA có chứa 2/3 lượng nước, nắp chai bị đục thủng 02 lỗ, một lỗ cắm ống nhựa hút, một lỗ cắm một nỏ thủy tinh; 01 bật lửa màu đỏ hiệu VINA; 01 gói ni lông trong suốt kích thướt 1,5 x 0,5 cm được kèn kín ba cạnh, một cạnh hở; 01 ống hút nhựa được cắt nhọn dài 6.5cm; toàn bộ mẫu vật bên trong có chứa 0,174 gam mẫu vật chất ma túy còn lại và toàn bộ vỏ bao gói hoàn trả trong phong bì nêm phong số 765/C09C (Đ4).

-Tiếp tục tạm giữ số tiền 700.000đ thu giữ của Nguyễn Công T để đảm bảo thi hành án khoản tiền thu lợi bất chính.

Án phí hình sự sơ thẩm, Nguyễn Công T phải chịu 200.000đ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Về hình phạt: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt Nguyễn Công T 04 (Bốn) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ( ngày 21/7/2019).

-Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

-Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung màu đen của Nguyễn Công T.

-Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 3.200.000đ thu lợi bất chính từ việc bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Công T.

-Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 chai nước lọc hiệu AQUA có chứa 2/3 lượng nước, nắp chai bị đục thủng 02 lỗ, một lỗ cắm ống hút nhựa, một lỗ cắm một nỏ thủy tinh;.

+ 01 bật lửa màu đỏ hiệu VINA.

+ 01 gói ni lông trong suốt kích thướt 1,5 x 0,5 cm được kèn kín ba cạnh, một cạnh hở.

+01 ống hút nhựa được cắt nhọn dài 6.5cm.

+03 gói ni lông trong suốt kích thước 1,5 x 0,5 cm được kèn các cạnh, bên trong có chứa 0,174 gam mẫu vật chất ma túy còn lại và toàn bộ vỏ bao gói hoàn trả trong phong bì nêm phong số 765/C09C (Đ4), bên ngoài có dấu của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đ.

-Tiếp tục tạm giữ số tiền 700.000đ thu giữ của Nguyễn Công T để đảm bảo thi hành án khoản tiền thu lợi bất chính. (Theo biên lai thu số 1289 ngày 07/11/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T).

-Về án phí hình sự sơ thẩm: Nguyễn Công T phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng y).

-Về quyền kháng cáo: Nguyễn Công T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (08/11/2019). Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Nơi nhận:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKSND huyện T

- Chi cục THADS huyện T

(Đã ký và đóng dấu)

- Bị cáo, những người TGTT khác

- TAND tỉnh Q

Nguyễn Công Min

- VP công an huyện T

- Lưu HS-AV

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN THĂNG BÌNH

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––

TỈNH QUẢNG NAM

Số: 59./2019/HSST-QĐTG

Thăng Bình, ngày 08 tháng 11 năm 2019.

QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THĂNG BÌNH-TỈNH QUẢNG NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Min.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Hoàng và ông Tô Đình Trị.

.

Căn cứ các Điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Biên bản nghị án ngày 08 tháng 11 năm 2019 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;

Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1: Tạm giam bị cáo Nguyễn Công Trƣờng, sinh năm 1997 tại thị trấn Hà Lam, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú khu phố 7, thị trấn Hà Lam, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp không có.

Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 04 (Bốn) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Thời hạn tạm giam là 45 (Bốn mươi lăm) kể từ ngày tuyên án (ngày 08/11/2019).

Điều 2: Nhà tạm giữ lưu giam Công an huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam có trách nhiệm thi hành Quyết định này. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- -VKSND huyện Thăng Bình

- -Nhà TGLG CA Thăng Bình

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- -Bị cáo

- - Lưu hồ sơ vụ án.

Nguyễn Công Min

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN DUY XUYÊN

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––

TỈNH QUẢNG NAM

–––––––––––––––

Duy Xuyên, ngày 16 tháng 87 năm 2019.

Số:…./2019/HSST-QĐTG

QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY XUYÊN-TỈNH QUẢNG NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Min.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Đình Lục và bà Phạm Thị Cang.

.

Căn cứ các Điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Biên bản nghị án ngày 16 tháng 8 năm 2019 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;

Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1: Tạm giam bị cáo Đặng Ngọc Pháp, sinh năm 1998 tại thị trấn Nam Phước, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú khối phố Bình An, thị trấn Nam Phước, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp không có.

Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 48 (Bốn mươi tám) tháng tù về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Thời hạn tạm giam là 45 (Bốn mươi lăm) kể từ ngày tuyên án (ngày 16/8/2019).

Điều 2: Nhà tạm giữ lưu giam Công an huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam có trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Cỡ chữ