- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lộc Hải Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lộc Hải Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2019/HS-ST Ngày 22-8-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Liễu Thị Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Hợp;
Ông Tô Đức Lộc.
- Thư ký phiên toà: Ông Nông Văn Đông - Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Vi Thế Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2019, tại nhà văn hóa xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2019/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2019/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:
Lộc Hải Đ, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 14 tháng 02 năm 1988 tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn T (hay còn gọi là khu 7), thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lộc Văn K, sinh năm 1961 và con bà Nông Thị L, sinh năm 1964; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự hoặc xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 06/5/2019 đến nay. Có mặt.
- Người chứng kiến: Anh Tăng Duy T. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lộc Hải Đ, sinh ngày 14/02/1988, nghiện chất ma túy từ năm 2015 đến nay. Khoảng 08 giờ ngày 06/5/2019, Lộc Hải Đ từ thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn đón xe khách đi đến cửa khẩu T, rồi đi bộ theo đường mòn khu vực L lên đỉnh đồi K thuộc thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn qua biên giới Việt Nam – Trung Quốc với mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. Khi sang đến địa phận Trung Quốc giáp với đỉnh đồi K thuộc thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, Lộc Hải Đ gặp một người đàn ông Trung Quốc (không biết họ tên, địa chỉ) và hỏi mua 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng tiền ma túy; sau khi Lộc Hải Đ đưa tiền, người đàn ông Trung Quốc đưa cho Lộc Hải Đ 01 (một) gói nilon màu trắng bên trong có chứa 01 (một) cục nhỏ ma túy heroine. Lộc Hải Đ nhận lấy số ma túy rồi nhặt một túi nilon màu trắng (loại dùng đựng bơm xi lanh tiêm) ở gần đó để gói số ma túy vừa mua lại rồi cất giấu vào trong cạp quần sịp đang mặc ở phía trước, rồi đi về Việt Nam. Khi về đến chân đồi K thuộc thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn thì bị Tổ công tác Đồn biên phòng T kiểm tra, Lộc Hải Đ chấp hành và tự nguyện giao nộp số ma túy đang cất giấu trong người cho Tổ công tác; sau đó Tổ công tác đã đưa Lộc Hải Đ cùng tang vật về trụ sở Đồn Biên phòng T để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định.
Tổ công tác đã tạm giữ của Lộc Hải Đ gồm: 01 (một) gói ni lon màu trắng (loại dùng đựng bơm xi lanh tiêm) bên trong có 01 (một) gói nilon màu trắng có chứa 01 (một) cục nhỏ màu trắng nghi là ma túy heroine được niêm phong theo quy định; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu xanh, đã qua sử dụng, có gắn 01 (một) sim vinaphone.
Tại Kết luận giám định số 174/KL-PC09 ngày 07/5/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng có trong 01 (một) gói nilon gửi giám định là chất ma túy heroine, có khối lượng 0,561 gam (đã trừ bì).
Tại bản Cáo trạng số 53/CT-VKS-HS ngày 23/7/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Lộc Hải Đ về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lộc Hải Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lộc Hải Đ từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù giam. Bị cáo là người nghiện ma túy, không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được để trong một phong bì niêm phong và toàn bộ các vỏ bao gói là vật nhà nước cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng. Trả lại cho bị cáo Lộc Hải Đ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu xanh, đã qua sử dụng, có gắn 01 (một) sim vinaphone là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lộc Hải Đ đều khai nhận hành vi phạm tội, nhất trí với bản Cáo trạng và luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 06/5/2019, tại chân đường mòn đồi K thuộc thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, Tổ công tác Đồn Biên phòng T đã phát hiện bắt quả tang Lộc Hải Đ có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy heroine, có tổng khối lượng là 0,561 gam (đã trừ bì), với mục đích để sử dụng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, phù hợp với vật chứng đã thu giữ được và Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức được hành vi bị cáo thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Lộc Hải Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội thấy rằng: Hành vi mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân gián tiếp gây ra tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì để phục vụ cho việc sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo đã bất chấp pháp luật và dư luận xã hội, để thực hiện hành vi phạm tội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về nhân thân: bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự hoặc xử lý vi phạm hành chính, tuy nhiên bị cáo nghiện ma túy từ năm 2015 đến nay, điều này thể hiện bị cáo thiếu tu dưỡng, rèn luyện bản thân.
Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết xử phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo Biên bản xác minh ngày 09/5/2019 của Cơ quan điều tra và qua xét hỏi công khai bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm thấy rằng: Bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, bản thân nghiện ma túy; vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định (0,522 gam heroine) được để trong một phong bì in chữ ĐỒN BIÊN PHÒNG T, có chữ ký của giám định viên Hoàng Mạnh H, hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn, hình dấu của Đồn Biên phòng T và chữ ký của những người tham gia niêm phong và toàn bộ các vỏ bao gói là vật Nhà nước cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng. Trả lại cho bị cáo Lộc Hải Đ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu xanh, đã qua sử dụng, có gắn 01 (một) sim vinaphone là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, hình phạt bổ sung và xử lý vật chứng phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, bị cáo khai là người Trung Quốc và không biết họ tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được; do đó không có căn cứ xem xét trong vụ án này.
Bị cáo là người bị kết án, theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ vào khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lộc Hải Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lộc Hải Đ 01 (một ) năm 06 (sáu) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06/5/2019.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định (0,522 gam heroine) được để trong một phong bì in chữ ĐỒN BIÊN PHÒNG T, có chữ ký của giám định viên Hoàng Mạnh H, hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn, hình dấu của Đồn Biên phòng T và chữ ký của những người tham gia niêm phong và toàn bộ các vỏ bao gói.
Trả lại cho bị cáo Lộc Hải Đ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu xanh, đã qua sử dụng, có gắn 01 (một) sim vinaphone.
(Vật chứng đang được lưu giữ tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 23/7/2019).
4. Về án phí: Bị cáo Lộc Hải Đ phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào Ngân sách Nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND H. Văn Lãng, T. Lạng Sơn; - CQĐT CA H. Văn Lãng, T. Lạng Sơn; - CQTHAHS CA H. V, T. Lạng Sơn; - Nhà tạm giữ CA H. V, T. Lạng Sơn; - Chi cục THADS H. V, T. Lạng Sơn; - Bị cáo; - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA (Đã ký) Liễu Thị Hạnh |