vanban.org

Bản án 56/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Tiền Giang Tuyên án 21/05/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/05/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Bùi Đỗ Tấn L.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 13/2019/HS-ST ngày 04 tháng 03 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Đỗ Tấn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm Bản án 13/2019/HS-ST Tuyên án 04/03/2019
Phúc thẩm — đang xem Bản án 56/2019/HS-PT Tuyên án 21/05/2019

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Đỗ Tấn L - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? 1/ Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Bùi Đỗ Tấn L.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2019/HS-PT
Ngày: 21/5/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thơ.

Các Thẩm phán: 1. Ông Huỳnh Văn Ngoan;

2. Bà Lâm Ngọc Tuyền.

Thư ký phiên tòa: Ông La Tương Lai – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Minh Hiếu– Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 28/2019/TLPT-HS ngày 16 tháng 04 năm 2019 đối với bị cáo Bùi Đỗ Tấn L do có kháng cáo của bị cáo Bùi Đỗ Tấn L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2019/HS-ST ngày 04 tháng 03 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

- Bị cáo:

Bùi Đỗ Tấn L, sinh năm 1995 tại tỉnh Tiền Giang.

Nơi cư trú: Số 199/4 đường Tết Mậu Thân, phường 4, Tp. M, tỉnh Tiền Giang; Chỗ ở khác: Số 191 ấp P, xã Tân Mỹ C, Tp. M, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Tấn Thanh X (chết) và bà Đỗ Thị Kim T; vợ: Lê Thị Thanh H và 02 con; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31/01/2019

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, bản án có 01 bị hại không kháng cáo, bản án không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ ngày 09/7/2017, bị hại Nguyễn Minh D và bị cáo Bùi Đỗ Tấn L đến quán Cosy (địa chỉ: Phường 8, thành phố M) hát Karaoke. Khi đang hát, bị cáo L bỏ về trước không thanh toán tiền. Đến khoảng 03 giờ cùng ngày, D đến nhà L để nói chuyện nhưng L không ra, D đứng bên ngoài chửi, dùng đá ném nhà L. Lúc này, bị cáo L cầm một con dao bằng kim loại màu đen dài 30cm đi ra đứng đối diện chém D theo hướng từ trên xuống, D đưa tay lên đỡ nên bị thương tích bàn tay; L tiếp tục cầm dao đuổi theo D nhưng D bỏ chạy nên L đi về nhà. Đến khoảng 03 giờ 50 phút cùng ngày, D được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Tiền Giang điều trị.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 388 ngày 31/10/2017 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Tiền Giang kết luận Nguyễn Minh D tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 19%.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2019/HS-ST ngày 04 tháng 03 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Đỗ Tấn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Đỗ Tấn L 02(Hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 31/01/2019.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 15/03/2019, Bị cáo Bùi Đỗ Tấn L có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm số 13/2019/HS-ST ngày 04 tháng 03 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang xác định đơn kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, còn nội dung kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt là không có căn cứ. Sau cùng Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo L thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung của bản án sơ thẩm đã xét xử, đồng thời bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo là xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

1/ Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: Do có mâu thuẫn cá nhân nên khoảng 03 giờ ngày 09/7/2017 bị cáo L đã có hành vi dùng dao bằng kim loại màu đen dài 30 cm là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho anh Nguyễn Minh D, với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 19% thương tích do vật sắc gây ra. Do đó, bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Bùi Đỗ Tấn L về tội “Cố ý gây thương tích”, theo qui định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

2/ Xét thấy, hành vi nêu trên của bị cáo đã xâm phạm nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng của anh D được pháp luật bảo vệ. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đều biết việc gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm, chứng tỏ bị cáo có thái độ xem thường pháp luật, xem thường tính mạng sức khỏe của người khác.

3/ Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đến tính chất và mức độ nguy hiểm đối với xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra; cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; xử phạt bị cáo với mức án nêu trên là phù hợp với quy định của pháp luật. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm tình tiết gì mới để Hội đồng xét xử xem xét. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bên cạnh đó, hành vi phạm tội của bị cáo xảy ra trước ngày 01/01/2018 thì phải áp dụng Bộ luật hình sự 1999 để xử lý. Tuy nhiên so sánh mức hình phạt tại khoản 2 điều 104 Bộ luật hình sự 1999 từ 2 đến 7 năm tù, còn mức hình phạt tại khoản 2 điều 134 Bộ luật hình sự 2015 từ 2 đến 6 năm tù. Căn cứ vào Nghị quyết số 41/2017/QH 14 ngày 20/6/2017 áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm đ khoản 2 điều 134 Bộ luật hình sự 2015 để xét xử là có căn cứ. Nhưng bản án sơ thẩm không áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 là có thiếu xót, Hội đồng xét xử phúc thẩm bổ sung cho phù hợp.

Xét lời đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

1/ Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Bùi Đỗ Tấn L.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 13/2019/HS-ST ngày 04 tháng 03 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Đỗ Tấn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Đỗ Tấn L 02 (Hai) năm tù . Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 31/01/2019.

2/ Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSPT .

3/ Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ