- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo L phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2019/HS-ST. Ngày: 04/3/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO - TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Nguyệt.
- Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Hơn;
Bà Phan Thị Đẹp;
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trạng – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang..
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Bạch - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 143/2018/TLST-HS ngày 12/12/2018, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 13/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2019, đối với bị cáo:
- Họ và tên: BÙI ĐỖ TẤN L
- sinh năm 1995, tại tỉnh Tiền Giang.
- Nơi ĐKNKTT: đƣờng T, Phƣờng T, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
- Chổ ở khác: ấp T, xã C, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
- Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.
- Nghề nghiệp: Làm thuê
- Trình độ học vấn: 9/12.
- Con ông: Bùi Tấn Thanh X, sinh năm 1957 (đã chết); Và bà: Đỗ Thị Kim T, sinh năm 1968.
- Bị cáo có vợ tên Lê Thị Thanh H, sinh năm 1998; và có 02 con (con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh tháng 11/2018).
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 31/01/2019.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Ngƣời bào chữa cho bị cáo: Ông Bùi Lƣu Lạc là Luật sƣ – Văn phòng Luật sƣ Lạc Huy thuộc Đoàn Luật sƣ tỉnh Tiền Giang (có mặt).
* Người bị hại: Nguyễn Minh D, sinh năm 1995 (có mặt).
Trú tại: ấp T, xã P, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
* Người làm chứng: Bùi Đỗ Tấn L1, sinh ngày 09/12/2000 (có mặt).
Địa chỉ: đƣờng T, Phƣờng T, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 00 giờ ngày 09/7/2017, ngƣời bị hại Nguyễn Minh D và bị cáo L đến quán “Cosy” (Địa chỉ: Phƣờng 8, thành phố Mỹ Tho) hát Karaoke. Khi đang hát, bị cáo L bỏ về trƣớc không thanh toán tiền. Đến khoảng 03 giờ cùng ngày, D đến nhà L để nói chuyện nhƣng L không ra, D đứng bên ngoài chửi, dùng đá ném nhà L. Lúc này, bị cáo L cầm một con dao bằng kim loại màu đen dài 30 cm đi ra đứng đối diện chém D theo hƣớng từ trên xuống, D đƣa tay lên đỡ nên bị thƣơng tích hai bàn tay; L tiếp tục cầm dao đuổi theo D nhƣng D bỏ chạy nên L đi về nhà. Đến 03 giờ 50 phút cùng ngày, D đƣợc đƣa đến Bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh Tiền Giang điều trị.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 338 ngày 31/10/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Tiền Giang kết luận Nguyễn Minh D tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên hiện tại là 19%.
Tại bản cáo trạng số: 05/CT-VKS-HS ngày 07 tháng 12 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo L về tội “Cố ý gây thƣơng tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho giữ quyền công tố vẫn giữ y quan điểm về tội danh và khung hình phạt nhƣ Cáo trạng đã truy tố và đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Về vật chứng vụ án đại diện Viện kiểm sát đề nghị: tịch thu tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại màu đen dài 30 cm. Về trách nhiệm dân sự, đề nghị ghi nhận sự tự nguyện bồi thƣờng thiệt hại xong giữa bị cáo và ngƣời bị hại.
Ý kiến của ngƣời bào chữa: Luật sƣ phân tích động cơ và nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ý kiến của bị cáo: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nhƣ Cáo trạng của Viện kiểm sát thành phố Mỹ Tho đã truy tố bị cáo và không có ý kiến gì khác
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai trái, rất hối hận và xin lỗi ngƣời bị hại. Đồng thời xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xừ nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Mỹ Tho, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của ngƣời bị hại, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng nhƣ qua phần xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do mâu thuẫn cá nhân, nên khoảng 03 giờ ngày 09/7/2017, tại ấp Phong Thuận - xã Tân Mỹ Chánh - thành phố Mỹ Tho - tỉnh Tiền Giang; Bị cáo L sử dụng dao là hung khí nguy hiểm chém anh Nguyễn Minh D 01 nhát gây thƣơng tích.
Căn cứ giấy chứng nhận thƣơng tích số 243a/CN-BV ngày 09/10/2017, số 243b/CN-BV ngày 09/10/2017 của Bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh Tiền Giang chứng nhận Nguyễn Minh D có các thƣơng tích sau: Vết thƣơng lòng bàn tay 2 bên # 10cm; đứt gân gấp ngón 2,3 tay phải. Vết thƣơng đứt gân gấp ngón 1 tay phải; hạn chế gấp duỗi ngón 1 tay phải.
Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 338 ngày 31/10/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Tiền Giang kết luận Nguyễn Minh D: Dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo mổ trùng với vết thƣơng lòng bàn tay phải, kt (12x0.5)cm, tỷ lệ 09%. Sẹo vết thƣơng lòng bàn tay trái, kt (9x0.3)cm, tỷ lệ 06%. Đứt gân gấp các ngón I, II, III; hạn chế duỗi ngón I tay phải; tỷ lệ 05%. Tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên hiện tại là 19%. Thƣơng tích do vật sắc gây nên.
Nhƣ vậy, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo L phạm tội: “Cố ý gây thƣơng tích” tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Khi thực hiện tội phạm, bị cáo là ngƣời đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đƣợc rằng sức khỏe của ngƣời khác vốn đƣợc pháp luật bảo vệ, nhƣng vì mâu thuẫn nhỏ với ngƣời bị hại, mà bị cáo không kềm chế đƣợc tức giận đã dùng hung khí sắc bén chém vào ngƣời bị hại làm phát sinh hành vi vi phạm pháp luật dẫn đến thƣơng tích ngƣời bị hại với tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể là 19%; Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc để giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng tính mạng, sức khỏe của ngƣời khác và phòng ngừa chung.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo có nhân thân tốt chƣa có tiền án, tiền sự; bị cáo là lao động chính trong gia đình. Tại phiên tòa, bị cáo cùng mẹ bị cáo là bà Đỗ Thị Kim T bồi thƣờng xong phần trách nhiệm dân sự cho ngƣời bị hại với số tiền là 3.700.000 đồng và ngƣời bị hại không có yêu cầu gì khác. Do đó, cần cho bị cáo đƣợc hƣởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiện hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
* Về trách nhiệm dân sự:
Ngƣời bị hại Nguyễn Minh D đã nhận số tiền bồi thƣờng chi phí điều trị thƣơng tích tổng cộng là 3.700.000 đồng và không có yêu cầu gì khác, nên đƣợc HĐXX ghi nhận.
* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Xét vật chứng vụ án là 01 con dao bằng kim loại màu đen dài 30cm, cán dài 10cm, lƣỡi dài 20cm, bản rộng 06cm là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
* Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội.
Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho phù hợp quan điểm của Hội đồng xét xử.
Xét ý kiến bào chữa của Luật sƣ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên đƣợc chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo L phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo L 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 31/01/2019.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận bồi thƣờng thiệt hại xong giữa bị cáo và ngƣời bị hại.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao bằng kim loại màu đen dài 30cm, cán dài 10cm, lƣỡi dài 20cm, bản rộng 06cm (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho).
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc Hội;
Bị cáo L chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Bị cáo, ngƣời bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận - TAND Tỉnh TG. - VKSND thành phố Mỹ Tho. - Chi cục THA DS TP Mỹ Tho. - Trại giam. - Bị cáo, ngƣời bị hại. - Lƣu THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Minh Nguyệt THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |