vanban.org

Bản án 56/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Áp dụng: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 85, Điều 91, khoản 1 Điều 89, Điều 92, 94 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; điểm a khoản 5 điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết …

* Tuyên xử: Về quan hệ hôn nhân: Chị Sơn Thị H được Ly hôn với anh Lý Thanh H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? * Áp dụng: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 85, Điều 91, khoản 1 Điều 89, Điều 92, 94 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; điểm a khoản 5 điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết …
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG PHÚ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2019/HNGĐ-ST.
Ngày: 31–12 – 2019.
V/v Tranh chấp xin ly hôn và
quyền nuôi con chung khi ly hôn.
.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Quyết Chiến

2. Ông Thạch Thanh Tâm

-Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Bảo– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Điều-Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 291/2019/TLST–HNGĐ, ngày 18/10/2019, về “Tranh chấp xin ly hôn và quyền nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 26/11/2019, giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Chị Sơn Thị H.

Địa chỉ: Ấp TB, xã TrKh, huyện LPh , tỉnh Sóc Trăng.

-Bị đơn: Anh Lý Thanh H.

Địa chỉ: Ấp TrL, xã TrKh, huyện LPh, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 03 tháng 9 năm 2019 và các tài liệu khác có trong hồ sơ, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, nguyên đơn chị Sơn Thị H (chị H) trình bày: Năm 2013 chị H với anh Lý Thanh H (anh H) chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Trường Khánh, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng, sau kết hôn chị H với anh H sống hạnh phúc nhưng đến khoảng năm 2012 thì vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn do anh H thường hay uống rượu về kiếm chuyện cự cải đánh đập, hành hạ vợ con và mẹ vợ, cuộc sống chung không hạnh phúc anh chị sống ly thân từ tháng 11/2012 cho đến nay. Trong quá trình chung sống chị H với anh H có 02 con chung là: Lý Bảo Kỳ, sinh ngày 27/11/2010 và Lý Vĩnh Kỳ, sinh ngày 09/11/2012. Về tài sản chung và nợ chung: Chị H và anh H không có tài sản chung và không có thiếu nợ chung.

Nay chị H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Long Phú giải quyết.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị H xin được ly hôn với anh H.

- Về con chung: Yêu cầu được nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.

-Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay, vị đại diên Viện Kiểm Sát phát biểu ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước khi Hội đồng xét xử tiến hành nghị án, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục tố tụng. Đối với những người tham gia tố tụng thì trước và tại phiên tòa hôm nay bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luât tố tụng dân sự, không tham gia tố tụng theo triệu tập của tòa án. Tại phiên tòa sơ thẩm Hội đồng xét xử, thư ký thực hiện đúng trình tự thủ tục tại phiên tòa. Về nội dung, Vị đại diện Viện kiểm sát nêu quan điểm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

-Mặc dù Tòa án đã tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh H hợp lệ, nhiều lần nhưng tại phiên tòa hôm nay, anh H vẫn vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa hôm nay, chị H không yêu cầu hoãn phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn do đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do, từ những ý kiến, yêu cầu trên. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt anh Lý Thanh H.

Xét yêu cầu khởi kiện giải quyết ly hôn của chị Sơn Thị H đối với anh Lý Thanh H:

-Từ Sau khi thụ lý, trong quá trình chuẩn bị xét xử Tòa án đã nhiều lần tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng như, thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và quyết định định đưa vụ án ra xét xử cho anh H, nhưng anh H không trả lời thông báo thụ lý, không có mặt theo giấy triệu tập để cung cấp lời khai, cũng như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, do đó Tòa án căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.

-Về quan hệ hôn nhân: Theo đơn khởi kiện ngày 17/8/2019 và tại phiên tòa sơ thẩm, chị H trình bày trong cuộc sống chung vợ chồng giữa chị và anh H thường hay gây gổ, cải vả với nhau quan điểm sống không hợp nhau, mâu thuẩn vợ chồng kéo dài, ngày càng trầm trọng anh, chị đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2012 cho đến nay nay, không còn tình cảm, không quan tâm chăm sóc nhau. Từ những chứng cứ trên cho thấy trong quá trình chung sống với nhau chị H và anh H phát sinh nhiều mâu thuẩn kéo dài và ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng khó có thể hàn gắn được, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ vào Các Điều 85, Điều 91, khoản 1 Điều 89, Điều 92, 94 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Sơn Thị H.

-Về con chung: Chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi các con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét điều kiện, hoàn cảnh thực tế chị H đã không còn chung sống với anh H hơn 7 năm, trong khoảng thời gian này con chung của anh, chị sống với chị H, cuộc sống của các cháu đã ổn định về mọi mặt, việc thay đổi điều kiện, hoàn cảnh sống sẽ làm ảnh hưỡng đến tâm lý, tình cảm, sự phát triển bình thường về mọi mặt của các cháu. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là cần thiết và hợp lý. Đối với ý kiến của chị H về việc không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, con của chị H và anh H là các cháu Lý Bảo Kỳ, sinh ngày 27/11/2010 và Lý Vĩnh Kỳ, sinh ngày 09/11/2012 do chị H trực tiếp nuôi dưỡng, mặc dù chị H có công việc làm và có thu nhập, nhưng chị H không chứng minh được chị có công việc ổn định và có thu nhập cao, nếu không có sự chia sẻ, gánh vác trách nhiệm nuôi con chung của anh H sẽ làm ảnh hưỡng đến điều kiện sinh hoạt trong cuộc sống và học tập của các cháu. Do đó, để đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích về vật chất của con chung sau khi anh H và chị H ly hôn cần buộc anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

-Về tài sản chung và nợ chung: Chị H xác định chị và anh H không có thiếu nợ ai, tài sản chung anh, chị không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về quyền kháng cáo bản án: căn cứ vào các Điều 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

* Áp dụng: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 85, Điều 91, khoản 1 Điều 89, Điều 92, 94 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; điểm a khoản 5 điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án; Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

* Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Sơn Thị H được Ly hôn với anh Lý Thanh H.

2. Về quyền nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Sơn Thị H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng các con chung của chị Sơn Thị H và anh Lý Thanh H là các cháu Lý Bảo Kỳ, sinh ngày 27/11/2010 và Lý Vĩnh Kỳ, sinh ngày 09/11/2012. Anh Lý Thanh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho các cháu Lý Bảo Kỳ và Lý Vĩnh Kỳ mỗi cháu là 695.000 (Sáu trăm chín mươi năm nghìn) đồng một tháng. Thời gian cấp dưỡng kể từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi các cháu tròn 18 tuổi. Anh Lý Thanh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Sơn Thị H xác định không có thiếu nợ chung, tài sản chung không có không yêu cầu nên, không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Sơn Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân, gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001066 ngày 18 tháng 10 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. Anh Lý Thanh H phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.

5. Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hôm nay thì thời gian kháng cáo được tính từ ngày tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ