- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Trần Thúy Kiều với anh Trần Trường Giang"
- Tòa quyết gì? [1] Về hôn nhân: Chị T T K được ly hôn với anh T T G.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2019/HNGĐ-ST Ngày: 27-02-2019 V/v Ly hôn giữa chị K và anh G. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Đông Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Nhựt Thảo
Bà Mai Hồng Thắm
-Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Sơn là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Hồng Em – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 309/2018/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2018 về “Ly hôn” theo Quyết định Đưa vụ án ra xét xử số 02/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2019 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 04/2019/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 01 năm 2019 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Chị T T K, sinh ngày 15-5-1990 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 29-01-2019)
ĐKHKTT: ấp T L, xã V T, huyện G Q, tỉnh Kiên Giang.
Tạm trú: Công ty nhựa P T, Lô E1, đường K1, khu Công nghiệp C L, phường T M L, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.
2.Bị đơn: Anh T T G, sinh ngày 12-7-1986 (vắng mặt)
ĐKHKTT: Tổ 01, ấp V P, xã V A, huyện C T, tỉnh An Giang.
Tạm trú: Công ty nhựa P T, Lô E1, đường K1, khu Công nghiệp C L, phường T M L, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, tờ tự khai ngày 11-9-2018, Biên bản lấy lời khai ngày 05-11-2018, nguyên đơn chị T T K trình bày: +Về hôn nhân: Chị và anh T T G kết hôn vào năm 2010, hôn nhân do quen biết, tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã V A, huyện C T, tỉnh An Giang số 62/KH Quyển số 01/2010 ngày 27-9-2010. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bên chồng. Vài ngày sau vợ chồng lên Thành phố Hồ Chí Minh làm công nhân sinh sống cho đến nay. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc khoảng 1 năm thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng trong cuộc sống, anh G không chí thú làm ăn sinh ra ăn chơi, cờ bạc (số đề, đá gà), không quan tâm gia đình. Cách nay khoảng 3 tháng chị và anh G không sống chung. Chị không nhờ gia đình hai bên giúp cải thiện mối quan hệ hôn nhân, từ sau khi không sống chung, anh G có đến tìm chị để hàn gắn lại tình cảm nhưng chị không đồng ý. Do chị đã nhiều lần tha thứ nhưng anh G không sửa đổi. Nay chị nhận thấy không còn tình cảm với anh G, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Chị cương quyết xin ly hôn với anh T T G. +Về con chung: Có 02 con chung tên T T H1, sinh ngày 16-4-2011 và T T H2, sinh ngày 21-7-2012. Hiện chị đang nuôi dưỡng. Nếu ly hôn tchị yêu cầu được tiếp tục nuôi con. +Về cấp dưỡng nuôi con: Chị yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật. +Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. +Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và 2 lần thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh T T G, nhưng anh G vẫn không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp chứng cứ, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Ngày 06-12-2018, Tòa án đến nhà anh G để ghi lời khai nhưng anh G không có mặt tại nhà. Do đó, Tòa án không ghi được lời khai của anh G. Ngày 17-12-2018, Tòa án nhận được Đơn xin nhượng quyền nuôi con của anh T T G gửi qua đường bưu điện có nội dung: Anh đang sinh sống tại Lô E1, đường K1, khu Công nghiệp C L, phường T M L, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh. Anh đồng ý để chị K được nuôi 2 con tên T T H1, sinh ngày 16-4-2011 và T T H2, sinh ngày 21-7-2012. Anh đồng ý cấp dưỡng nuôi con như Tòa án quy định. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang phát biểu quan điểm như sau: 1/Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ Luật Tố tụng Dân sự. 2/Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đối với nguyên đơn chị T T K, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa, nguyên đơn chị K có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung đối với nguyên đơn chị K.
Đối với bị đơn, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định Đưa vụ án ra xét xử, Quyết định Hoãn phiên tòa nhưng anh T T G vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung đối với bị đơn anh G.
[2] Về hôn nhân: Chị T T K và anh T T G kết hôn vào năm 2010, hôn nhân do quen biết, tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã V A, huyện C T, tỉnh An Giang ngày 27-9-2010 theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên hôn nhân này là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Chị K có yêu cầu ly hôn. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tổ chức hòa giải để hàn gắn lại tình cảm giữa chị K và anh G nhưng anh G không tham gia hòa giải. Từ khi sống ly thân cả hai đều bỏ mặc không tìm cách hàn gắn lại tình cảm; điều này cho thấy đời sống hôn nhân đã thật sự trầm trọng, khả năng đoàn tụ không còn. Đối chiếu với quy định của pháp luật tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Hội đồng xét xử xét thấy nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là chị K được ly hôn với anh G là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Về con chung: Chị T T K và anh T T G có 02 con chung. Chị K có yêu cầu nuôi con, anh G cũng đồng ý để chị K được tiếp tục nuôi con.
Xét thấy: Các cháu từ nhỏ đã quen sống với gia đình chị K. Từ sau khi sống ly thân cho đến nay chị K nuôi dưỡng và chăm sóc các cháu chu đáo, các cháu được đi học đàng hoàng; cháu H1 gần 8 tuổi, cháu H2 gần 7 tuổi hiện đang sinh sống và đi học tại Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh không có điều kiện để đến Tòa án trình bày nguyện vọng muốn sống với cha hay mẹ. Tại Đơn xin nhượng quyền nuôi con của anh T T G có thể hiện cháu H1 và cháu H2 có nguyện vọng theo mẹ. Đối chiếu với quy định của pháp luật tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Vì vậy, để không làm thay đổi cuộc sống cũng như sự phát triển tâm sinh lý của 2 cháu; Hội đồng xét xử xét thấy nên để cho chị K được tiếp tục nuôi dưỡng 2 con chung là phù hợp.
Chị T T K và các thành viên trong gia đình chị K không được cản trở anh T T G trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định tại khoản 2 Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Anh T T G lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị K có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của anh G theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. [4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T T K yêu cầu anh T T G cấp dưỡng nuôi con theo pháp luật. Anh G cũng đồng ý cấp dưỡng nuôi con theo phán quyết của Tòa án. Xét thấy: Yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị K là phù hợp quy định của pháp luật tại khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và anh G cũng đồng ý cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét là anh G có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con bằng ½ mức lương cơ sở trên tháng theo từng thời điểm lương trên mỗi con chung, tổng cộng anh G cấp dưỡng nuôi 2 con bằng 1 mức lương cơ sở trên tháng theo từng thời điểm lương. Thời điểm cấp dưỡng kể từ ngày 27-02-2019 cho đến khi cháu H1 và cháu H2 tròn 18 tuổi, chị K đại diện nhận. [5] Về tài sản chung: Chị T T K trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh T T G không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét. [6] Về nợ chung: Chị T T K trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh T T G không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét. [7] Về án phí: Đối chiếu với quy định của pháp luật tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; Điểm a khoản 5, Điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, Nguyên đơn chị T T K phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008702 ngày 03-10-2018 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang. Bị đơn anh T T G phải chịu 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con. [8] Về quyền kháng cáo: Đối chiếu với quy định của pháp luật tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; Nguyên đơn chị T T K; bị đơn anh T T G vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; Các Điều 9, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5, Điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,
Xử:
[1] Về hôn nhân: Chị T T K được ly hôn với anh T T G.
[2] Về con chung: Chị T T K được tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung tên T T H1, sinh ngày 16-4-2011 và T T H2, sinh ngày 21-7-2012.
Chị T T K và các thành viên trong gia đình chị K không được cản trở anh T T G trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định tại khoản 2 Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Anh T T G lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị K có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của anh G theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T T G có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con bằng ½ mức lương cơ sở trên tháng trên mỗi con chung, tổng cộng anh G cấp dưỡng nuôi hai (2) con bằng một (1) mức lương cơ sở trên tháng theo từng thời điểm lương. Thời điểm cấp dưỡng kể từ ngày 27-02-2019 cho đến khi cháu T T H1 và cháu T T H2 tròn 18 tuổi, chị T T K đại diện nhận.
[4] Về án phí:
Nguyên đơn chị T T K phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008702 ngày 03-10-2018 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Bị đơn anh T T G phải chịu 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.
[5] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị T T K; bị đơn anh T T G vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -Các đương sự (để thi hành); -Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành; -Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành; -Phòng Kiểm tra Nghiệp vụ - Thi hành án, Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; -Cơ quan thực hiện việc đăng ký kết hôn (UBND xã V A, huyện C T, tỉnh An Giang; -Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Đông Hoà |