vanban.org

Bản án 56/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 25/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý ”.

2/ Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 02/7/2018. 3/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu sung ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Đỗ Văn Nam - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý ”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN LẠC
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2018/HS-ST
Ngày 25 - 10 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hoàng Minh Tuấn

- Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Đỗ Hồng Phúc

2/ Bà Trần Thị Thanh Tâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Văn Tiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Xuân - Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 10 năm 2018, tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2018/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2018/QĐXXHS-ST ngày 11 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

Đỗ Văn N (tên gọi khác không), sinh ngày 06/02/1991; nơi sinh và cư trú tại: Thôn 3, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn L và bà Đỗ Thị Đ; có vợ là chị Chu Thị H và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/7/2018 cho đến nay (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Nguyễn Việt B, sinh ngày 1989 (vắng mặt);

Nơi cư trú: Thôn N, xã H, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 29/6/2018, Đỗ Văn N (là đối tượng nghiện ma túy) đến thuê phòng 204 nhà nghỉ T ở thôn M, xã T, huyện Y do ông Văn Duy A, sinh năm 1967 làm chủ. Khoảng 15h ngày 01/7/2018, N bắt xe khách xuống thị xã T, tỉnh Bắc Ninh gặp và mua được của 01 người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ 01 gói ma túy (Heroine), 02 viên ma túy tổng hợp (thuốc ngựa) với giá 1.000.000đ. Sau đó, N về nhà nghỉ T chia số ma túy (Heroine) vừa mua được thành 08 gói nhỏ để sử dụng và bán kiếm lời, N đã sử dụng hết 03 gói nhỏ ma túy. Sáng ngày 02/7/2018, N nghiền 01 viên ma túy tổng hợp (thuốc ngựa) ra và sử dụng hết một phần. Khoảng 19h30 cùng ngày, N nhận được điện thoại của Nguyễn Việt B hỏi mua 01 gói ma túy (Heroine) với giá 200.000đ. N đồng ý hẹn B đến khu vực cổng trường Trung học cơ sở xã T để trao đổi mua bán. Khoảng 30 phút sau, N cầm theo 01 gói ma túy (Heroine) đi bộ ra chỗ hẹn gặp B. Tại đây, B đưa cho N 200.000đ, N cầm tiền rồi đưa cho B 01 gói ma túy (Heroine) thì bị Công an huyện Yên Lạc bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ gồm: Trong bàn tay phải của B 01 gói nhỏ bọc giấy trắng, bên ngoài bọc băng dính màu đen chứa chất bột dạng cục màu trắng (B khai đây là gói ma túy vừa mua được của N), niêm phong trong bao gói ký hiệu A1; trong tay trái N số tiền 200.000đ (N khai là tiền vừa bán ma túy cho B), trong túi quần N 2.560.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen đã vỡ màn hình.

Cùng ngày 02/7/2018, Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Lạc đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đỗ Văn N tại phòng số 204 nhà nghỉ T ở thôn M, xã T. Thu giữ của N 01 hộp kim loại màu vàng - trắng nhãn hiệu thuốc lá T, bên trong chứa 01 túi nilon màu trắng đựng 03 gói nhỏ bọc ngoài bằng băng dính màu đen, bên trong bọc giấy chứa chất bột dạng cục màu trắng, được niêm phong trong bao gói ký hiệu A2; 01 túi nilon màu trắng đựng 01 cục nén màu đỏ, 01 gói nhỏ bằng giấy chứa chất bột dạng cục màu trắng và 01 gói nhỏ bọc ngoài bằng băng dính màu đen, trong bọc nilon màu xanh chứa chất bột dạng cục màu nâu - xám, được niêm phong trong bao gói ký hiệu A3; 04 mảnh giấy kích thước 03cm x 03cm; 01 dao tem đã qua sử dụng và 01 ống hút được cuộn bằng 01 tờ tiền polime mệnh giá 20.000đ.

Tại Văn bản số 926/KLGĐ ngày 06/7/2018, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: Chất bột, cục màu trắng của 02 mẫu ký hiệu A1, A2 và có trong mẫu ký hiệu A3 gửi giám định là ma túy, loại Heroine có khối lượng lần lượt là 0,0294g, 0,2043g và 0,0208g. Chất bột, cục màu xám nâu có trong mẫu ký hiệu A3 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng là 0,0243g. Cục nén màu đỏ có trong mẫu ký hiệu A3 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng là 0,0436g.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho N ở khu vực thị xã T, tỉnh B Ninh, bản thân N không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để tiến hành xác minh.

Đối với Nguyễn Việt B là người mua ma túy của Đỗ Văn N để sử dụng cho bản thân, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại thôn N, xã H, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc nhưng không có ai có nhân thân, lai lịch như B đã khai nhận tại Cơ quan điều tra nên tiếp tục xác minh khi nào làm rõ xử lý sau.

Đối với ông Văn Duy A là chủ nhà nghỉ T, quá trình điều tra làm rõ khi cho N thuê phòng ông H không biết N dùng làm địa điểm cất giấu và sử dụng ma túy nên Cơ quan điều tra đã nhắc nhở, giáo dục và không xem xét xử lý hình sự.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đỗ Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.

Tại bản Cáo trạng số: 60/CT- VKS ngày 04/10/2018, Viện kiểm sát nhân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Đỗ Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Đỗ Văn N. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn N từ 02 năm 06 tháng tù đến 02 năm 09 tháng tù.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Khoảng 20h00 ngày 02/7/2018, tại khu vực cổng trường Trung học cơ sở xã T, huyện Y, Đỗ Văn N đang có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy (Heroine) theo kết luận giám định có khối lượng bằng 0,0294g cho Nguyễn Việt B với giá 200.000đ thì bị Công an huyện Yên Lạc phát hiện bắt quả tang. Khám xét nơi ở của N thu giữ 0,2251g Heroine và 0,0679g ma túy tổng hợp Methamphetamine, N khai cất giấu để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời.

. Xét lời khai của bị cáo Đỗ Văn N phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác. Do vậy, hành vi của bị cáo Đỗ Văn N đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật Hình sự.

Khoản 1 điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”

. Xét tính chất vụ án nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy hiểu được tác hại do ma túy gây ra nhưng vẫn bán ma tý cho ngừi khác, thể hiện bị cáo có ý thức coi thường pháp luật. Việc bị cáo N bán ma tuý cho người khác sử dụng trái phép nhằm mục đích kiếm lời là nguyên nhân khuyến khích người khác phạm tội mua, vận chuyển hoặc tàng trữ trái phép chất ma tuý. Do đó cần xử phạt nghiêm, áp dụng hình phạt tù nhằm mục đích giáo dục riêng bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm chung.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, hậu quả xảy ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo Đỗ Văn N, thấy rằng: Bị cáo N lần đầu phạm tội, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, bị cáo Đỗ Văn N được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

. Đối với Nguyễn Việt B là người mua trái phép chất ma túy của Đỗ Văn N để sử dụng nhưng Cơ quan điều tra chưa xác định được tên tuổi, lai lịch cụ thể nên tiếp tục điều tra làm rõ khi có căn cứ sẽ xử lý sau. Do vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

. Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo N khai mua của người đàn ông ở khu vực thị xã T, tỉnh Bắc Ninh nhưng không rõ tên, tuổi, địa chỉ. Do vậy, Cơ quan điều tra - Công an huyện Yên Lạc tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

. Đối với ông Văn Duy A là chủ Nhà nghỉ T, tuy nhiên quá trình điều tra xác định khi cho N thuê phòng ông H không biết N dùng làm nơi cất giấu và sử dụng ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Do vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, bị cáo Đỗ Văn N có nghề nghiệp làm ruộng, thu nhập không ổn định, trọng lượng ma túy bị cáo bán cho B không lớn, bản thân bị cáo N đang bị tạm giam. Do vậy, không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đỗ Văn N là phù hợp.

. Về xử lý vật chứng: Cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu sung ngân sách nhà nước 200.000đ do bị cáo N bán ma túy mà có, 20.000đ bị cáo dùng làm ống hút để sử dụng ma túy và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia là phương tiện bị cáo dùng để liên lạc bán ma túy. Trả lại cho bị cáo Đỗ Văn N 2.560.000đ nhưng cần tạm giữ để bảo đảm thi hành án. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ bao gói niêm phong mẫu vật ký hiệu A1, A2 và A3 do Cơ quan giám định hoàn lại theo mẫu trả niêm phong số: 926/KLGĐ ngày 06/7/2018, 04 mảnh giấy kích thước 03cm x 03cm, 01 hộp kim loại màu vàng - trắng nhãn hiệu thuốc lá T, 01 dao tem đã qua sử dụng vì không còn giá trị sử dụng.

. Về án phí: Bị cáo Đỗ Văn N phải chịu theo quy định của pháp luật.

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Lạc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Yên Lạc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý ”.

2/ Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 02/7/2018.

3/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu sung ngân sách nhà nước của bị cáo Đỗ Văn N 220.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia. Trả cho bị cáo Đỗ Văn N 2.560.000đ nhưng cần tạm giữ để bảo đảm thi hành án. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ bao gói niêm phong mẫu vật ký hiệu A1, A2 và A3 do Cơ quan giám định hoàn lại theo mẫu trả niêm phong số: 926/KLGĐ ngày 06/7/2018, 04 mảnh giấy kích thước 03cm x 03cm, 01 hộp kim loại màu vàng - trắng nhãn hiệu thuốc lá T và 01 dao tem.

4/ Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Đỗ Văn N phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án, thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án, thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc niêm yết./.

Cỡ chữ