vanban.org

Bản án 56/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La Tuyên án 20/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T, phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/7/2018. Về vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Nguyễn Anh T - Bị truy tố tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T, phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÙ YÊN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:56/2018/HS-ST
Ngày 20/9/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa ông: Cầm Xuân Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Công Ó và Ông Đinh Văn Hải

Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Hằng - kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2018/TLST-HS ngày 31/8/2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2018/ QĐXXST-HS ngày 05/9/2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Anh T, sinh ngày 12/01/1974 tại Phù Yên – Sơn La; nơi cư trú: Khối 02 thị trấn Phù Yên, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Đảng phái đoàn thể, tôn giáo: không; con ông Nguyễn Trường X và bà Nguyễn Thị T; bị cáo có vợ là Lê Thị Lam G và có 2 con; không tiền án, tiền sự; nhân thân: năm 2009 bị Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội xử phạt tiền 13.000.000đ (Mười ba triệu đồng) về tội đánh bạc và ngày 05/3/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (đều được xóa án tích); bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 03/7/2018 đến ngày xét xử, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 8 giờ ngày 02/7/2018 Nguyến Anh T đến quán anh Phùng Văn H tại Khối 3 thị trấn Phù Yên để ăn sáng, trong khi ăn anh H có rủ T đi Mộc Châu để xem ô tô T đồng ý, sau khi ăn sáng xong T đến nhà anh Ngô Hữu T trú tại Khối 6 thị trấn Phù Yên hỏi thuê xe ô tô BKS: 30E - 140.21 nhãn hiệu: CHEVROLET-AVEOLT màu trắng với giá thuê 700.000đ một ngày, sau khi thuê được xe T trở anh H đi đến thị trấn Nông trường Mộc Châu xem xe nhưng do giá xe cao anh H không mua, sau đó hai người đi thuê phòng nghỉ ở nhà nghỉ Hoa Ban trắng tại thị trấn Nông trường Mộc Châu đến khoảng 20 giờ cùng ngày sau khi ăn cơm xong T một mình điều khiển xe ô tô đến nhà anh Nguyễn Đức H trú tại Tiểu khu 3 thị trấn Mộc Châu để hỏi mua ma túy, tại nhà anh H, T đã mua được 1 gói ma túy và 2 viên hồng phiến với giá 1.000.000đ (Một triệu đồng ), sau khi mua được ma túy T về nhà nghỉ lấy một ít ma túy để sử dụng, số còn lại T cho vào trong bao thuốc lá Marlboro đút trong túi quần sáng hôm sau ngày 03/7/2018 T cùng anh H đi xe về Phù Yên đến bản Khoa 3 xã Tường Thượng thì bị tổ công tác Công an huyện Phù Yên bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 41/CT-VKS ngày 30/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Nguyễn Anh T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm i, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Anh T và đề nghị HĐXX áp dụng điểm i, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Anh T từ 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 47, Điểm a khoản 2 Điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 0,851g (Không phẩy tám trăm năm mươi mốt gam) hêrôin đựng trong phong bì thư đã được niêm phong.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Anh T 900.000đ (Chín trăm nghìn đồng) đang tạm giữ tại cơ quan THADS huyện Phù Yên.

Chấp nhận cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Phù Yên đã trả lại một chiếc xe ô tô cho anh Ngô Hữu T và trả lại một chiếc điện thoại di động cho chị Lê Thị Lam G là chủ sở hữu hợp pháp.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an huyện Phù Yên, Điều tra viên, Viện Kểm sát nhân dân huyện Phù Yên và kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Do nghiện ma túy, Nguyễn Anh T đã mua hêrôin để sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:

Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 06 giờ 50 phút ngày 03/7/2018 tại bản Kh 3 xã Tường Th, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

Lời khai nhận tội của bị cáo;

Vật chứng thu giữ trong vụ án:

- 01 gói chất bột màu hồng - trắng, khối lượng 0,099 gam, kết luận giám định là Hêrôin và Methamphetamine.

- 02 viên nén màu hồng, khối lượng 0,192 gam, kết luận giám định là Methamphetamine.

- 01 gói bột màu trắng, khối lượng 0,969 gam, kết luận giám định là Hêrôin.

Với các căn cứ và chứng minh trên đủ sở sở kết luận Nguyễn Anh T đã phạm vào tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo phạm tội với khối lượng là 1,26g hêrôin (Một phẩy hai mươi sáu gam) đã vi phạm điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, quy định mức hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù. Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống các tội phạm về ma túy và ảnh hưởng đến tình hình trật tự an ninh tại địa phương, là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác. Về nhân thân, năm 2009 bị Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội xử phạt tiền 13.000.000đ (Mười ba triệu đồng) về tội đánh bạc và ngày 05/3/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (đều được xóa án tích). Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội bị cáo gây ra để đảm bảo giáo dục riêng, phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đối với các bị cáo. Sau khi phạm tội, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bố bị cáo là ông Nguyễn Trường X là thương binh hạng 2/4,quá trình công tác trong quân đội có nhiều thành tích xuất sắc được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân huy chương hạng nhất, nhì, ba trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Mặt khác, điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, là lao động chính trong gia đình, con còn nhỏ nên cần xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt đối với bị cáo, cũng đảm bảo giáo dục riêng, phòng ngừa chung.

Về nguồn gốc ma túy, bị cáo khai mua của Nguyễn Đức H ở Mộc Châu. Quá trình điều tra xác minh, xác định được Nguyễn Đức H sinh năm 1978, cư trú tại Tiểu khu 3 thị trấn Nông trường Mộc Châu nhưng hiện nay Nguyễn Đức H không có mặt tại địa phương, nên không có cơ sở điều tra làm rõ.

Đối với chiếc xe BKS: 30E - 140.21 nhãn hiệu CHEVROLET-AVEOLT bị cáo sử dụng đi Mộc Châu mua ma túy là do bị cáo thuê của anh Ngô Hữu T, anh T hoàn toàn không biết bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy. Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Ngô Hữu T là phù hợp với quy định của pháp luật. Đối với chiêc điện thoại di động Iphone 7 Plus thu giữ của bị cáo được xác định là của chị Lê Thị Lam G, Cơ quan điều tra Công an huyện Phù Yên đã trả lại cho chị G là phù hợp, cần chấp nhận.

Về vật chứng vụ án: Khối lượng 0,851g (không phẩy tám trăm năm mươi mốt gam ) ma túy còn lại sau khi giám định cùng giấy gói màu trắng ngà, túi nilon, bao thuốc lá Marlboro thu giữ của bị cáo Nguyễn Anh T là vật mà Nhà nước cấm lưu hành, vật không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 900.000đ (Chín trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần tạm giữ 200.000đồng để đảm bảo thi hành án và trả lại cho bị cáo số tiền 700.000đồng.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, tài sản không có giá trị. Do vậy không áp dụng đối với bị cáo.

Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T, phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/7/2018.

2. Về vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 0,851g (Không phẩy tám trăm năm mươi mốt gam) ma túy cùng 01 giấy gói màu trắng ngà, 01 túi nilon và 01 bao thuốc lá Marlboro thu giữ của bị cáo.

Tạm giữ 200.000đồng để đảm bảo thi hành án và trả lại cho bị cáo số tiền 700.000đồng thu giữ của bị cáo.

3. Về án phí: Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ