- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của anh Nguyễn Bá H;
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2017/HNGĐ-ST Ngày 20 tháng 12 năm 2017 V/v: Tranh chấp về ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thụy
2. Bà Trần Phan Thị Hà
Thư ký Tòa án nhân dân quận B ghi biên bản phiên tòa:
Bà Phạm Thị Thùy Linh – Thư ký tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Bách Thiện Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận B, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 525/2017/TLST - HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2017 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2017/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2017; Quyết định hoãn phiên tòa số: 134/2017/QĐST-HPT ngày 29 tháng 11 năm 2017 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: anh Nguyễn Bá H, sinh năm 1976; Đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: phòng A, phường V, quận B, thành phố Hà Nội (có mặt).
* Bị đơn: Chị Bùi Thị S, sinh năm 1982; Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: phòng A, phường V, quận B, thành phố Hà Nội. (vắng mặt lần hai liên tiếp không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Anh Nguyễn Bá H và Chị Bùi Thị S có tự nguyện tìm hiểu và đi đến kết hôn vào ngày 22 tháng 9 năm 2006 tại UBND Vĩnh Phúc, quận B, thành phố Hà Nội. Trong quá trình vợ chồng chung sống có nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống, sống không hợp nhau, sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Khi xảy ra mâu thuẫn thì chị S bỏ nhà đi không ai biết. Tòa án nhân dân quận B đã tiến hành thông báo tìm kiếm vắng mặt nơi cư trú đối với chị S nhưng từ đó đến nay không có tin tức gì của chị S. Khi xảy ra mâu thuẫn vợ chồng hai bên gia đình nội ngoại đó biết mâu thuẫn của vợ chồng và đó giảng hòa để tiếp tục cuộc sống gia đình nhưng không có kết quả. Nay Anh H thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị S.
- Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là cháu Nguyễn Hà A, sinh ngày 07 tháng 11 năm 2007 và cháu Nguyễn Hà P, sinh ngày 17 tháng 12 năm 2014. Khi ly hôn Anh H có nguyện vọng nuôi cả hai con không yêu cầu chị S phải thực hiện nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nhà ở: Anh H xác nhận không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về các khoản vay nợ: Anh H xác nhận vợ chồng không vay nợ nhau. Vợ chồng không vay nợ ai và không cho ai vay nợ.
Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về việc triệu tập ghi lời khai và tham gia phiên hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn, tuy nhiên bị đơn vẫn vắng mặt, do đó Tòa án không tiến hành ghi lời khai của bị đơn và không tiến hành hòa giải cho các đương sự được.
Tại phiên tòa hôm nay bị đơn vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo luật định.
* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định Điều 48; Điều 198; khoản 2, 3 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
+ Thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của người tham gia tố tụng Điều 28, 39, 40 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
+ Chuyển thông báo thụ lý vụ án, các quyết định đến Viện kiểm sát và các tống đạt cho đương sự theo đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 175; Điều 191; Điều 195; Điều 196; Điều 199 và khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
+ Thực hiện nguyên tắc hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo khoản 1 Điều 205; khoản 2 Điều 207; khoản 2 Điều 208; Điều 209; Điều 210 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
+ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời gian chuẩn bị xét xử đã được Thẩm phán thực hiện theo đúng quy định tại Điều 220; điểm a khoản 1, khoản 4 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
+ Hội đồng xét xử chấp hành đúng theo các nguyên tắc cơ bản về xét xử và thành phần Hội đồng xét xử đúng theo qui định tại Điều 63; Điều 226 và chương II Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
+ Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các nhiệm vụ, quyền hạn qui định tại Điều 51; Điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
+ Đối với đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay đương sự đã được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 2 Điều 4; khoản 1 Điều 28; khoản 2 Điều 42; Điều 267 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, giao hai con chung cho Anh H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ đóng góp nuôi con chung đối với chị S. Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để tuyên nguyên đơn chịu án phí sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh Nguyễn Bá H và Chị Bùi Thị S có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong quá trình vợ chồng chung sống với nhau xảy ra mâu thuẫn và chị S đã bỏ đi không ai biết. Trước khi làm đơn xin ly hôn, anh Nguyễn Bá H đã có đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú đối với chị S tại Tòa án nhân dân quận B. Ngày 30 tháng 5 năm 2017 Tòa án nhân dân quận B đã ra quyết định số: 09/2017/QĐST-ST quyết định chấp nhận đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú và thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú đối với chị S. Vì vậy, Tòa án tiến hành thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015.
[2] Về nội dung: Xét quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Bá H và Chị Bùi Thị S là quan hệ hôn nhân hợp pháp có đăng ký kết hôn ngày 22 tháng 9 năm 2006 tại UBND Vĩnh Phúc, quận B, thành phố Hà Nội. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, sống không hợp nhau, cuộc sống chung không hạnh phúc. Khi mâu thuẫn của vợ chồng xảy ra thì gia đình hai bên có biết có khuyên giải cho vợ chồng nhưng không có kết quả và kể từ thời điểm năm 2016 chị S bỏ nhà đi không ai biết tin tức gì từ đó đến nay. Chị S không liên lạc gì với Anh H và gia đình. Anh H cũng đã chủ động đi tìm kiếm tin tức của chị S qua gia đình bên nội, người thân, bạn bè nhưng không ai biết tin tức của chị S. Anh H đã phát tin trên đài tiếng nói Việt Nam ba ngày liên tiếp và đăng thông báo tìm kiếm trên báo ba số liên tiếp ba kỳ ngày 30/5/2017 và 01, 02/6/2017 theo quyết định của Tòa án nhưng từ đó đến nay không có tin tức gì của chị S. Nay Anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ là không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị S.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng tại địa phương nơi cư trú cuối cùng trước khi chị S trước khi biệt tích, tuy nhiên chị S vẫn vắng mặt không lý do, vì vậy Tòa án không tiến hành ghi lời khai và hòa giải được cho anh chị. Tòa án vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tòa án cũng tiến hành ghi ý kiến gia đình của mẹ đẻ Anh H là bà Lê Thị Hài cho biết: Cháu Nguyễn Bá Hvà Bùi Thị S có tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn vào tháng 22/9/2006 tại UBND phường V, quận B, thành phố Hà Nội. Sau khi cưới thì hai cháu về ở tại phòng 304 khu 7,2ha, phường V, quận B, thành phố Hà Nội. Trong quá trình hai cháu chung sống với nhau xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do các cháu bất đồng về quan điểm và cách sống. Khi mâu thuẫn căng thẳng đến ngày 6/7/2016 cháu S bỏ đi. Hiện nay không ai biết cháu S đang ở đâu và cháu S cũng không về nhà bố mẹ đẻ tại xã Hồng Lạc, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương nữa, cháu H và gia đình nội ngoại, bạn bè cố gắng liên lạc, tìm kiếm nhưng không có kết quả gì. Xác định tình cảm không còn nên cháu H có yêu cầu xin ly hôn với cháu S nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật để cháu H được ly hôn cháu S. Vợ chồng cháu H và cháu S có hai con chung là cháu Nguyễn Hà A, sinh ngày 07 tháng 11 năm 2007 và cháu Nguyễn Hà P, sinh ngày 17 tháng 12 năm 2014. Từ khi cháu S bỏ đi cháu H một mình nuôi con nên khi ly hôn cháu H có nguyện vọng nuôi cả hai con không yêu cầu cháu S phải thực hiện nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi hai con chung, gia đình chúng tôi đồng ý và sẽ tạo mọi điều kiện để giúp đỡ cháu H nuôi con. Về tài sản chung và nhà ở theo như gia đình chúng tôi được biết cháu H và cháu S không có tài sản, nhà ở chung. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Gia đình chúng tối xác nhận không vay nợ hai cháu và hai cháu cũng không vay nợ gì gia đình chúng tôi.
Hội đồng xét xử xét thấy: Chị S bỏ nhà đi từ năm 2016 cho đến nay, không có tin tức gì cho gia đình, không liên lạc gì với gia đình, tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ là không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho Anh H được ly hôn chị S là phù hợp.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là cháu Nguyễn Hà A, sinh ngày 07 tháng 11 năm 2007 và cháu Nguyễn Hà P, sinh ngày 17 tháng 12 năm 2014. Khi ly hôn Anh H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và hiện nay Anh H không biết chị S đang ở đâu nên không yêu cầu chị S đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về tài sản chung và nhà ở: Anh H xác nhận vợ chồng không có tài sản chung và nhà ở gì nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
Về khoản nợ: Anh H xác nhận vợ chồng không vay nợ nhau. Vợ chồng không vay nợ ai và không cho ai vay nợ.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Anh H và chị S có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng các Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Áp dụng các Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39: Điều 70; khoản 4 Điều 147; các Điều 203; 228, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của anh Nguyễn Bá H;
Anh Nguyễn Bá H được ly hôn với Chị Bùi Thị S.
2. Về con chung: Giao con hai con chung là cháu Nguyễn Hà A, sinh ngày 07 tháng 11 năm 2007 và cháu Nguyễn Hà P, sinh ngày 17 tháng 12 năm 2014 cho Anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm hoãn nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị S cho đến khi Anh H có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác của pháp luật.
Chị Bùi Thị S có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nhà ở: Anh H xác nhận không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về khoản nợ: Anh H xác nhận vợ chồng không vay nợ nhau, không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ.
4. Về án phí sơ thẩm: Anh Nguyễn Bá H phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu số 7666 ngày 29 tháng 9 năm 2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận B, thành phố Hà Nội.
Án xử công khai sơ thẩm, Anh H có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 20 tháng 12 năm 2017. Chị S vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường nơi Chị Bùi Thị S cư trú cuối cùng.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân quận B; - Chi Cục THA dân sự quận B; - UBND phường V, quận B, thành phố Hà Nội; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Long |