- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Kim Sơn - - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Kim S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 559/2021/HS-ST Ngày: 31/12/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Thu
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thị Lượng
2/ Ông Huỳnh Tiến Dũng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Giang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Phong – Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án Nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 511/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 670/2021/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2021, đối với bị cáo:
Ngô Kim S; giới tính: Nam; sinh năm: 1973, tại Nghệ An; thường trú: Xóm Minh S, xã Kỳ S, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: chạy xe ôm; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Ngô Kim Đề và bà: Thái Thị Miễn; Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Sen (đã ly hôn), có 02 con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 2007.
Tiền án: 01
- Bản án số 392/2018/HS-ST ngày 25/12/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/8/2019, thi hành xong phần án phí ngày 12/02/2019.
Tiền sự: Không
Bị tạm giam từ ngày 25/02/2021 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngô Kim S là người nghiện ma túy, bắt đầu sử dụng lại ma túy từ tháng 11/2020 đến nay. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 25/02/2021, S đang ở bến xe Lam Hồng, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương để chạy xe ôm thì gặp Phan Văn T, sau đó cả hai vào quán cà phê trước cổng bến xe để uống nước, nói chuyện. Lúc này thì S có khách đi xe ôm nên sử dụng xe mô tô Yamaha Sirius, màu đen, biển số 38P1 - 647.26 chở khách đến ngã tư Bình Phước, thành phố Thủ Đức, còn T thì đi về. Khi chở khách đến ngã tư Bình Phước xong, S gặp người chạy xe ôm (không rõ lai lịch) mua 01 gói ma tuý với giá 300.000 đồng. Sau đó, S cầm ma túy trên tay và điều khiển xe mô tô trên về Bến xe Lam Hồng để lấy một nỏ thủy tinh trong nhà vệ sinh và nhặt 01 chai nhựa (loại chai nước ngọt) rồi điểu khiển xe mô tô trên đến phòng trọ của Tú tại phòng số 9 nhà số 83/11 đường 5, khu phố 2, phường Linh Xuân, thành phố Thủ Đức. Khi đến phòng trọ thì S lên trên gác ngồi, lấy ra 01 (một) gói ma túy đá để trên nền, nỏ thủy tinh với chai nhựa làm thành dụng cụ sử dụng ma túy đá để cạnh gói ma túy, rồi lấy điện thoại hiệu Oppo F7, số thuê bao 0327277227 gọi đến số thuê bao 0968746977 của Hồ Trọng T rủ T đến phòng trọ của Tú hút ma túy, nhưng T nói đang bận không đến, nên S nằm ngủ. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày thì Thái một mình đến phòng trọ của Tú và đi thẳng lên gác ngồi nói chuyện với S, khoảng 05 phút sau thì Vương Đồng T cũng đến nhà T và lên gác ngồi chơi. Khi Tú, S, T, T đang ngồi trên gác nói chuyện thì Công an phường Linh Xuân đến kiểm tra phòng trọ của Tú phát hiện trên nền gác phòng trọ có 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu và một chai nhựa (loại chai nước ngọt) trên nắp chai có gắn 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút màu cam - trắng và một gói giấy bạc bỏ trong túi nylon bên trong chứa chất bột màu trắng nên đã thu giữ và đưa tất cả về trụ sở làm việc. S khai nhận chất tinh thể không màu là ma túy tổng hợp (ma túy đá) và chai nhựa có gắn nỏ thủy tinh, ống hút là dụng cụ sử dụng ma túy đá đều là của S nhằm mục đích sử dụng. Còn 01 gói giấy bạc bỏ trong túi nylon bên trong chứa chất bột màu trắng, thì S không rõ của ai. Ngoài ra kết quả xét nghiệm, S dương tính với chất ma túy tổng hợp Morphin và Methamphetamine.
Căn cứ bản kết luận giám định số 1441/KLGĐ-H ngày 05/3/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận số ma tuý thu giữ của S: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2540g, loại Methaphetamine.
Căn cứ bản kết luận giám định số 1443/KLGĐ-H này 05/3/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận số ma tuý thu giữ tại phòng trọ của Tú: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3471g, loại Heroine.
Vật chứng vụ án:
- 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 1441 có chữ ký của GĐV Nguyễn Xuân Sang, bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo F7, màu đen, số sê ri: KNE64HU8NJCU4T4S, số thuê bao 0327277227.
- 01 (một) chai nhựa (loại chai nước ngọt C2) trên nắp chai có gắn 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút màu cam - trắng.
- 01 (một) xe mô tô Yamaha Sirius, màu đen, biển số: 38P1 647.26. số khung: RLCUE3 710LY104299, số máy: E32VE-199304: Qua xác minh xe trên do chị Lê Thị Hải Yến, sinh năm: 1985 – Thường trú: Xóm 1, xã Hương Thủy, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh đứng tên chủ xe, ngày 23/02/2021 S mượn xe máy trên của chị Yến để chạy xe ôm, chị Yến đồng ý. Việc S sử dụng xe máy trên để đi mua ma túy thì chị Yến không biết. Ngày 30/4/2021, Cơ quan điều tra đã ra quyết định trả lại xe trên cho chị Yến.
Tại bản Cáo trạng số 222/CT-VKS ngày 28/6/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Ngô Kim S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Ngô Kim S có Đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có ý kiến: Xét đơn xin vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c, d Khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để xét xử vắng mặt đối với bị cáo.
Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Ngô Kim S về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Quá trình điều tra bị cáo Ngô Kim S thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có 01 bản án chưa được xóa án tích nên có tình tiết tăng nặng tái phạm theo điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ Luật hình sự. Do đó, đề nghị áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51 và điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Ngô Kim S tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Vật chứng của vụ án:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 1441 có chữ ký của GĐV Nguyễn Xuân Sang, bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định; 01 (một) chai nhựa (loại chai nước ngọt C2) trên nắp chai có gắn 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút màu cam - trắng.
- Trả lại cho bị cáo Ngô Kim S 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo F7, màu đen, số sê ri: KNE64HU8NJCU4T4S, số thuê bao 0327277227 không liên quan đến vụ án.
- 01 (một) xe mô tô Yamaha Sirius, màu đen, biển số: 38P1 647.26. số khung: RLCUE3 710LY104299, số máy: E32VE-199304: Qua xác minh xe trên do chị Lê Thị Hải Yến, sinh năm: 1985 – Thường trú: Xóm 1, xã Hương Thủy, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh đứng tên chủ xe, ngày 23/02/2021 S mượn xe máy trên của chị Yến để chạy xe ôm, chị Yến đồng ý. Việc S sử dụng xe máy trên để đi mua ma túy thì chị Yến không biết. Ngày 30/4/2021, Cơ quan điều tra đã ra quyết định trả lại xe trên cho chị Yến.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ thu thập được có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của bị cáo như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 25/02/2021, Ngô Kim S có hành vi tàng trữ ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2540 gram, loại Methamphetamine, tại phòng trọ số 9 nhà số 83/11 đường 5, khu phố 2, phường Linh Xuân, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Do đó có đủ căn cứ kết luận bị cáo Ngô Kim S đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, số ma túy bị cáo tàng trữ trái phép là loại Methamphetamine có khối lượng 0,2540 gram nên thuộc trường hợp định khung quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Ngô Kim S khai nhận mua ma túy về sử dụng, không bán lại cho ai. S có gọi điện rủ Hồ Trọng Thái đến phòng trọ của Phan Văn Tú tại phòng trọ số 9 nhà số 83/11 đường 5, khu phố 2, phường Linh Xuân, thành phố Thủ Đức để sử dụng ma túy nhưng Thái từ chối. Sau đó Thái đến phòng trọ của Phan Văn Tú mục đích để đòi tiền Tú còn nợ vợ chồng Thái 5.000.000 đồng, đồng thời Thái cũng hẹn gặp Tuấn ở đây để cho Tuấn mượn tiền. Khi Thái, Tuấn và bị cáo S ngồi nói chuyện trên gác trong phòng trọ, bị cáo S không rủ Thái, Tuấn sử dụng ma túy mặc dù S đã chuẩn bị sẵn ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy. Lời khai của Thái, Tuấn và S phù hợp với nhau nên hành vi của bị cáo S không đủ yếu tố cấu thành tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điều 255 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy nên cần xử phạt bị cáo một hình phạt nghiêm mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo có 01 bản án chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm theo quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, giảm cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Đối với người thanh niên là người bán ma túy cho Ngô Kim S đến nay chưa xác định được lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thủ Đức tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Đối với Vương Đồng Tuấn, Phan Văn T và Hồ Trọng T qua xét nghiệm đều dương tính với ma túy, Công an phường Linh Xuân ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Đối với ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,34710g, loại Heroine thu giữ tại phòng trọ của Phan Văn Tú đến nay chưa xác định định được của ai nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thủ Đức ra quyết định tách vụ án tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau là có căn cứ.
Về hình phạt bổ sung: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 1441 có chữ ký của GĐV Nguyễn Xuân Sang, bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định, là vật cấm cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) chai nhựa (loại chai nước ngọt C2) trên nắp chai có gắn 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút màu cam - trắng là dụng cụ sử dụng ma túy nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo F7, màu đen, số sê ri: KNE64HU8NJCU4T4S, số thuê bao 0327277227 không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo S nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án với khoản tiền án phí.
- Đối với 01 (một) xe mô tô Yamaha Sirius, màu đen, biển số: 38P1 647.26. số khung: RLCUE3 710LY104299, số máy: E32VE-199304: Qua xác minh xe trên do chị Lê Thị Hải Yến, sinh năm: 1985 – Thường trú: Xóm 1, xã Hương Thủy, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh đứng tên chủ xe, ngày 23/02/2021 S mượn xe máy trên của chị Yến để chạy xe ôm, chị Yến đồng ý. Việc S sử dụng xe máy trên để đi mua ma túy thì chị Yến không biết. Ngày 30/4/2021, Cơ quan điều tra đã ra quyết định trả lại xe trên cho chị Yến nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Ngô Kim S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
- Xử phạt bị cáo Ngô Kim S: 02 (hai) năm tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/02/2021.
3. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 1441 có chữ ký của GĐV Nguyễn Xuân Sang, bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định; 01 (một) chai nhựa (loại chai nước ngọt C2) trên nắp chai có gắn 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút màu cam - trắng.
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Oppo F7, màu đen, số sê ri: KNE64HU8NJCU4T4S, số thuê bao 0327277227 nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án đối với khoản tiền án phí.
(Theo Phiếu nhập kho số: NK21/27X ngày 01/7/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).
4. Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Ngô Kim S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
5. Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Bị cáo Ngô Kim S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - VKSND Tp.Hồ Chí Minh; - VKSND tp Thủ Đức; - Cơ quan CSĐT Công an tp Thủ Đức; - Nhà tạm giữ Công an tp Thủ Đức; - Cơ quan THA.HS Công an tp Thủ Đức; - Chi cục THA.DS tp Thủ Đức; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, VT. | TM.HỘI ĐỒNG XET XƯ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Đinh Thị Hoài Thu |