- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyên Tiến Toản - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo NTT phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 556/2022/HSST Ngày 21/12/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Chinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Triệu Đức Tươi.
2. Ông Trương Bế Thiện.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thùy Dương, cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Cảnh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 21/12/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 457/2022/HSST ngày 24/10/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 418/2022/QĐXXST-HS ngày 09/11/2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: NTT; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 12 tháng 01 năm 1966, tại Thái Nguyên; Nơi cư trú: Xóm S, xã HT, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/10; Nghề nghiệp: Tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông: Nguyễn Hữu T, sinh năm 1940; Con bà: Vũ Thị L, sinh năm 1941; Gia đình có 06 anh em, bị cáo là con thứ 02; Vợ: Sái Kim O, sinh năm 1969; Có 01 con, sinh năm 1997; - Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân: +Tại Bản án số 08/HSST ngày 27/02/1991 của Tòa án quân sự khu vực 1 Quân khu 1 xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa".
+ Tại Bản án số 86/HSST ngày 08/8/1998 của Tòa án nhân dân huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân” (Giá trị tài sản trộm cắp là 9.552.000 đồng). Chấp hành xong án phạt tù ngày 20/7/2000. Chấp hành xong án phí ngày 21/3/2001.
+ Tại Bản án số 09/HSST ngày 24/01/2003 của Tòa án nhân dân huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Giá trị tài sản trộm cắp là 150.000 đồng).
+ Tại Bản án số 69/HSST ngày 11/9/2003 của Tòa án nhân dân huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Giá trị tài sản trộm cắp là 100.000 đồng). Tổng hợp hình phạt với Bản án số 09/HSST ngày 24/01/2003 buộc T phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 Bản án là 54 tháng tù.
+ Tại Bản án số 307/HSST ngày 08/12/2003 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt 08 năm tù về “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 69/HSST ngày 11/9/2003 buộc T phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 Bản án là 12 năm 06 tháng tháng tù. Chấp hành xong án phạt tù ngày 24/11/2013. Chấp hành xong án phí ngày 11/6/2010.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên (bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/7/2022 đến nay). (Có mặt tại phiên tòa).
Ngƣời chứng kiến: 1. Anh NTY, sinh năm 1991. (Vắng mặt).
Trú quán: TDP G, phường Đ, thành phố Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Hồi 09 giờ 30 phút ngày 17/7/2022, tổ công tác của Công an phường Đ, thành phố Thái Nguyên làm nhiệm vụ tại khu vực tổ dân phố G của phường đã phát hiện 01 người đàn ông có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, người đàn ông khai tên là NTT đồng thời tự giác lấy ra từ lòng bàn tay trái 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng giao nộp cho tổ công tác. T khai nhận số chất bột màu trắng trên là Heroine mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T, thu giữ vật chứng theo quy định(BL: 39-40). Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Số chất bột màu trắng thu giữ của NTT có khối lượng 0,156 gam, lấy toàn bộ số chất bột màu trắngtrên đưa vào bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định. Tại Kết luận giám định số 1109/KL-KTHS ngày 25/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận:Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng thu giữ ban đầu là 0,156 gam (BL:27).
Tại Cơ quan điều tra, NTT khai nhận: Khoảng 09 giờ ngày 17/7/2022, T đi xe buýt từ nhà đến khu vực cầu G thuộc phường Đ, thành phố Thái Nguyên để mua Heroine sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine được gói bằng giấy bạc màu vàng với giá 100.000 đồng. Mua xong, T cầm gói Heroine ở tay trái rồi đi bộ tìm nơi để sử dụng. Khi T đi đến khu vực tổ dân phố G thuộc phường Đ, thành phố Thái Nguyên thì bị tổ công tác của Công an phường Đ phát hiện bắt quả tang như nêu trên.
Lời khai nhận của NTT phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án (BL: 27; 39-64).
Vật chứng của vụ án: 02 bì niêm phong kí hiệu A1, A2.
Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
Bản cáo trạng số 468/CT-VKSNDTPTN ngày 21/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố NTT về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, trong phần luận tội đối với bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo NTT phạm tội Tàng trữ trái phép ma túy. Đề nghị: Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt NTT mức án từ 21 đến 24 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định..
Bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Trong phần tranh luận: Bị cáo không tranh luận gì, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là không oan, đúng người, đúng tội;
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thấy hành vi phạm tội của mình là sai, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt đến mức thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội vì bố mẹ của bị cáo đã già yếu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1] .Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc kiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
.Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, bị cáo xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố là đúng người, đúng tội. Xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Hồi 09 giờ30 phút ngày 17/7/2022, tại khu vựctổ dân phố G, phường Đ, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, NTT có hành vi tàng trữ trái phép 0,156 gam Heroine, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường Đ, thành phố Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Đánh giá của Hội đồng xét xử: Bị cáo là người đủ năng lực hành vi trách nhiệm dân sự và biết ma túy là vật cấm và được Nhà nước quản lý nhưng vẫn cố tình tàng trữ trái phép ma túy là 0,156 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Do vậy hành vi của bị cáo đã đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Nội dung điều 249 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a, ....
...
c, Heroine...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam"
Do vậy bị cáo phải chịu hình phạt mà điều luật đã quy định.
Xét tính chất mức độ của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an ở địa phương và là một trong các nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội khác..
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là người có nhân thân xấu đã 05 lần bị các Tòa án xét xử bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật về tội Trộm cắp tài sản và tội Mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ hình phạt tù và án phí, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội, lại nghiện ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào..
Từ những nội dung nêu trên Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo mức án từ 24 đến 30 tháng tù là phù hợp..
Vật chứng của vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong kí hiệu A1, A2.
Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ NTT khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực cầu G thuộc phường Đ, thành phố Thái Nguyên. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở làm rõ để xử lý.
Về hình phạt bổ sung và án phí:
- Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính lẽ ra Hội đồng xét xử phạt bổ sung bị cáo. Tuy nhiên bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản và thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố:
1. Bị cáo NTT phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Căn cứ vào điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s, khoản 1, Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
2. Xử phạt: NTT 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/7/2022.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự. + Tịch thu tiêu hủy: - 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong chứa 0,140gam ma túy và vỏ bao gói mẫu, mặt sau có chữ ký của Nguyễn Thành T, Lê Tuấn A và 02 dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên. - 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong chứa vỏ bì niêm phong ban đầu, mặt sau có chữ ký của: Ma Đình T, Ngô Kim T, Hoàng Thị Diệu N, Trần Đức T, NTY, NTT và 03 dấu của Cơ quan CSĐT Công an TPTN.
(Hiện được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên theo tình trạng biên bản giao nhận vật chứng số 93 ngày 11/11/2022).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo NTT phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TN; - VKSND tỉnh TN; - VKSND thành phố TN; - Công an thành phố TN; - Chi cục THADSTPTN; - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - Bị cáo.. - Lưu HS; lưu BP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Duy Chinh |