- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Huỳnh T - Huỳnh Đức D"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Huỳnh T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 556/2022/HNGĐ-ST Ngày: 20 - 5 - 2022 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dung
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Ngọc Kính
2. Ông Lê Thanh Khải
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Nhàn – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 481/2021/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2021 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 81/2022/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Huỳnh T, sinh năm: 1983
Địa chỉ: Số 3014/A đường P, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Huỳnh Đức D, sinh năm 1981;
Địa chỉ thường trú: Số 1653 đường P, Phường G, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ cư trú: Số 3014/A đường P, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Các đương sự vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ nguyên đơn bà Nguyễn Thị Huỳnh T trình bày:
Bà và ông Huỳnh Đức D tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 6, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 43, quyển số I/2004, ngày 22/3/2004). Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2018 mâu thuẫn phát sinh vì đời sống chung không hòa hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông D không quan tâm chăm sóc gia đình nên đời sống hôn nhân luôn luôn căng thẳng, ngột ngạt và đã ly thân từ đó cho đến nay, mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Dù bà T đã nhiều lần khuyên nhủ, cố gắng hàn gắn hạnh phúc nhưng không thành, nay tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Nguyễn Thị Huỳnh T yêu cầu được ly hôn với ông Huỳnh Đức D
Về nuôi con chung: Bà T xác định vợ chồng có 01 (một) con chung tên Huỳnh Nguyễn Quốc H , sinh ngày 21/01/2005. Hiện trẻ Huy vẫn đang sống với bà Thủy, do bà T trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Ngoài ra, vợ chồng không còn con chung, con nuôi nào khác. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông Huỳnh Đức D cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà T xác định trong quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung và không có khoản nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Phan Tấn Huy đã được Tòa án tống đạt, triệu tập nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể thu thập được lời khai và không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã tuân thủ đúng thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến khi xét xử; Bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Bị đơn ông Huỳnh Đức D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải mà vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và không tiến hành hòa giải được theo Điều 207 và Điều 208 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đồng thời, ông D đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Huỳnh T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên căn cứ vào Khoản 2 Điều 227 và Khoản 1, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xét đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Huỳnh T thì đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, do bị đơn ông Huỳnh Đức D cư trú tại Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Về các yêu cầu của đương sự:
Xét thấy, bà Nguyễn Thị Huỳnh T và ông Huỳnh Đức D tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 6, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận phù hợp với Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Xét yêu cầu của bà T xin được ly hôn với ông D vì mâu thuẫn đã phát sinh từ năm 2018 do vì đời sống chung không hòa hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông D không quan tâm chăm sóc gia đình nên đời sống hôn nhân luôn luôn căng thẳng, ngột ngạt và đã ly thân từ năm 2018 cho đến nay, mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Hội đồng xét xử nhận thấy, tình cảm vợ chồng phải xuất phát từ hai phía, cả hai phải có sự thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau, cùng giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt, cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Thế nhưng, giữa bà T và ông D đã không còn sự thương yêu, quý trọng, chăm sóc lẫn nhau mà người nào chỉ biết bổn phận người đó, mạnh ai nấy sống. Mặc dù, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông D đến Tòa để tạo điều kiện cho vợ chồng hòa giải, đoàn tụ, hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng ông D vẫn vắng mặt điều này thể hiện ông D không còn tha thiết đến việc hàn gắn hạnh phúc gia đình. Tình cảm vợ chồng đã không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã phát sinh trầm trọng trong một thời gian dài, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà T là có căn cứ phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nuôi con chung: Bà T xác định trẻ Huỳnh Nguyễn Quốc H từ trước đến nay do bà T trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Đồng thời, xét nguyện vọng của trẻ Huy thể hiện “Nếu ba mẹ ly hôn con có nguyện vọng được sống với mẹ vì mẹ chăm sóc nuôi dưỡng con đến nay”. Nay bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con nên yêu cầu trên là phù hợp với nguyện vọng của con chung. Mặt khác, ông D cũng không đến Tòa nên cũng không thể hiện được ý kiến của ông về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Do đó, để bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con chung, việc giao con chung cho bà T tiếp tục nuôi con, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho ông D cho đến khi bà T có yêu cầu là có căn cứ phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Ông Huỳnh Đức D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai có quyền ngăn cản theo quy định tại các Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và Gia đình.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà T xác định trong quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung và không có khoản nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét, ý kiến phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào Luật Phí và Lệ phí năm 2015; Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 8, Điều 9, Điều 37, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 207, Điều 208, Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 và Khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự;
Căn cứ vào Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Huỳnh T.
Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Huỳnh T được ly hôn ông Huỳnh Đức D. (Giấy chứng nhận kết hôn số 43, quyển số I/2004 do Ủy ban nhân dân Phường 6, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 22/3/2004 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật).
Về nuôi con chung: Giao 01 (một) con chung tên Huỳnh Nguyễn Quốc H , sinh ngày 21/01/2005 cho bà Nguyễn Thị Huỳnh T trực tiếp nuôi con. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho ông Huỳnh Đức D cho đến khi bà T có yêu cầu. Ngoài ra, vợ chồng không còn con chung, con nuôi nào khác.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà T xác định trong quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung và không có khoản nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 (ba trăm ngàn) đồng bà Nguyễn Thị Huỳnh T phải chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu số AA/2021/ 0016091 ngày 03 tháng 12 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T đã thi hành xong phần án phí dân sự sơ thẩm.
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Về Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
4. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Quận 8; - Chi cục THADS Quận 8; - Ủy ban nhân dân nơi thực hiện việc đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Dung |