vanban.org

Bản án 556/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thụy Hồng T: Bà Đặng Thụy Hồng T, sinh năm 1987 được ly hôn với ông Đỗ Minh D, sinh năm 1982.

Về con chung: Có 03 con chung tên Đỗ Thụy Minh T, sinh ngày 06/10/2007, Đỗ Minh H1, sinh ngày 04/8/2010 và Đỗ Minh H2 sinh ngày 23/9/2018. Sau ly hôn giao cả ba trẻ T, H1, H2 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm ngừng việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông D cho đến khi có yêu cầu của bà T. Vì lợi ích co… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thụy Hồng T: Bà Đặng Thụy Hồng T, sinh năm 1987 được ly hôn với ông Đỗ Minh D, sinh năm 1982.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 556 /2020/HNGĐ-ST
Ngày: 30/6/2020
V/v Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TP.HỒ CHÍ MINH

Với Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Yến Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên

2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiếu Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện H.

Trong ngày 30 tháng 6 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1365/2019/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 78/2020/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đặng Thụy Hồng T, Sinh năm 1987

Địa chỉ: abc đường xx, phường TMT, quận yy, TPHCM

Bị đơn: Ông Đỗ Minh D, Sinh năm 1982

Địa chỉ: xyz ấp TT, xã XTĐ, huyện H, Tp.HCM.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/9/2019, Bản tự khai ngày 21/11/2019, Biên bản không tiến hành hòa giải được các ngày 07/01/2020, ngày 02/3/2020 và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Đặng Thụy Hồng T trình bày:

Sau một thời gian tự nguyện tìm hiểu, năm 2007 bà T, ông D tự nguyện quyết định xây dựng hạnh phúc gia đình, có tổ chức lễ cưới có đăng ký kết hôn tại UBND xã TC, huyện H, TPHCM theo quy định. Sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc dến khi sinh con đầu lòng. Sau đó vợ chồng vẫn có mâu thuẫn nhưng vì con bà T nhẫn nhịn để gia đình hàn gắn. Đến năm 2018, sau khi sinh con thứ ba xong mâu thuẫn trở nên gay gắt do ông D không quan tâm chia sẻ việc nhà cũng như việc chăm sóc con chung với vợ. Mặt khác, bà T cho rằng từ sau khi cưới đến khi có con chung thứ ba, một mình bà phải tự bươn chải lo kinh tế cho cả gia đình. Ông D thường xuyên nhậu nhẹt say xỉn, không chia sẻ về kinh tế để nuôi con cũng như lo cho cuộc sống chung của vợ chồng, không có trách nhiệm vói gia đình chung. Điều này khiến vợ chồng thường xuyên căng thẳng, gây gổ nên không hạnh phúc. Đến năm 2018 thì vợ chồng ly thân, ông D dọn về sống tại nhà cha mẹ ruột ở xã XTĐ, huyện H. Bà T vẫn sống với các con chung tại nhà thuê xã TC, huyện H đến nay. Nhận thấy cuộc sống chung không hạnh phúc, không còn tin tưởng nhau, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng đã nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả. Do đó, bà T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông D theo quy định của pháp luật.

Về con chung: 03 trẻ tên: Đỗ Thụy Minh T, sinh ngày 06/10/2007, Đỗ Minh H1, sinh ngày 04/8/2010 và Đỗ Minh H2 sinh ngày 23/9/2018, sau ly hôn bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Quá trình giải quyết, Tòa án đã tổ chức các phiên hòa giải cho các bên đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng phía bị đơn là ông Đỗ Minh D vắng mặt không đến Tòa án để tiến hành hòa giải mặc dù đã được tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhiều lần nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Vì vậy, tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện H đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định của Luật Hôn nhân gia đình và Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân huyện H nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn bà Đặng Thụy Hồng T khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Đỗ Minh D, quan hệ tranh chấp giữa bà T, ông D là ly hôn theo yêu cầu của một bên được quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình 2014. Bị đơn là ông Đỗ Minh D có địa chỉ tại 22/6 ấp TT, xã XTĐ, huyện H, Tp. HCM nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H.

Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân giữa Đặng Thụy Hồng T và ông Đỗ Minh D: Bà T, ông D tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TC, huyện H, TPHCM ngày 08/02/2007 nên đây là hôn nhân hợp pháp theo Điều 08, Điều 09 của Luật Hôn nhân Gia đình nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Nay bà T yêu cầu ly hôn với ông D nên Tòa án nhân dân huyện H căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Ggia đình 2014 để giải quyết. Quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay bà T vẫn cương quyết xin ly hôn với ông D do bất đồng quan điểm sống, không còn tình yêu thương vợ chồng.

Hội đồng xét xử xét thấy bà T, ông D có thời gian chung sống từ năm 2007 đến năm 2018, quá trình chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không còn tin tưởng và tôn trọng nhau, mặc dù hai bên đã nhiều lần hàn gắn nhưng không được. Năm 2018 bà T đã ly thân với ông D và từ đó đến nay không có tin tức gì về ông D, thỉnh thoảng ông D cũng liên lạc thăm con chung nhưng không có động thái gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà T. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà T, ông D là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà T là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà T được ly hôn với ông D theo quy định.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống bà T, ông D có 03 trẻ tên: Đỗ Thụy Minh T, sinh ngày 06/10/2007, Đỗ Minh H1, sinh ngày 04/8/2010 và Đỗ Minh H2 sinh ngày 23/9/2018. Sau ly hôn bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.

Tòa án có tiến hành thu thập lời khai ghi nhận ý kiến của trẻ T, H1, tại bản tự khai cả hai trẻ Thư, Huy đều có nguyện vọng muốn được ở cùng mẹ. Hội đồng xét xử xét thấy hiện tại cả ba trẻ T , H1, H2 đều đang sống cùng mẹ nên việc giao cả ba trẻ cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện hiện nay và phù hợp với nguyện vọng của các trẻ nên Hội Đồng xét xử quyết định giao cả bà trẻ T, H1, H2 cho bà T nuôi dưỡng, Tạm ngừng việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông D cho đến khi có đơn yêu cầu của bà T.

- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự khai không có nên Hội đồng xét xử không xém xét.

Đối với bị đơn là ông Đỗ Minh D vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa không có lý do dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định. Điều này chứng tỏ ông D không quan tâm đến việc giải quyết và hàn gắn gia đình nên không có cơ sở xem xét yêu cầu của bị đơn và vẫn tiến hành xét xử vắng mặt của bị đơn theo quy định của pháp luật.

Về án phí HNGĐ sơ thẩm: Bà T chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 227 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thụy Hồng T: Bà Đặng Thụy Hồng T, sinh năm 1987 được ly hôn với ông Đỗ Minh D, sinh năm 1982.

2. Về con chung: Có 03 con chung tên Đỗ Thụy Minh T, sinh ngày 06/10/2007, Đỗ Minh H1, sinh ngày 04/8/2010 và Đỗ Minh H2 sinh ngày 23/9/2018. Sau ly hôn giao cả ba trẻ T, H1, H2 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm ngừng việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông D cho đến khi có yêu cầu của bà T.

Vì lợi ích con chung, bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Khi cần thiết một hoặc cả hai bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về án phí HNGĐST: Bà T phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền 0008717 ngày 22/10/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H. Bà T Đặng Thụy Hồng T đã nộp xong án phí HNGĐST.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 06, 07 và 09 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoăc ngày niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ