- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị M - Vương Xuân T"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Hoàng Thị M đối với anh Vương Xuân T.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 554/2026/HNGĐ-ST Ngày: 13/8/2026 V/v: tranh chấp ly hôn, nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Chiến.
2. Bà Nguyễn Thị Mai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 tham gia phiên toà: Ông Đoàn Hữu Nam - Kiểm sát viên. Ngày 13 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 449/2026/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2026 về tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị M, sinh năm 1996; Số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx.
Nơi đăng ký thường trú: Thôn E, Y, xã H, thành phố Hà Nội (Nay là xóm Y, thôn T, xã H, thành phố Hà Nội).
Nơi đăng ký tạm trú: Nhà A khu C, TDP L, phường C, thành phố Hà Nội (phòng số 2).
Có mặt.
- Bị đơn: Anh Vương Xuân T, sinh năm 1995; Số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx.
Nơi đăng ký thường trú: Thôn E, Y, xã H, thành phố Hà Nội (Nay là xóm Y, thôn T, xã H, thành phố Hà Nội).
Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Hoàng Thị M trình bày:
Chị và anh Vương Xuân T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng kí tại UBND xã T nay là xã H, thành phố Hà Nội ngày 17/7/2015. Sau khi sinh con đầu lòng được 7 tháng chị đã phải nhờ bố mẹ chồng chăm sóc con giúp để đi lao động xuất khẩu tại Nhật Bản lo kinh tế cho gia đình vì anh T không biết chữ nên không đi được. Khi chị đi xuất khẩu lao động thì anh T ở nhà không chịu làm ăn, mải chơi bời. Thời gian lao động ở Nhật Bản chị vẫn gửi tiền về cho bố chồng (vì anh T không biết chữ) mục đích để sau này về xây dựng nhà riêng của vợ chồng như bố chồng hứa hẹn nhưng từ khi chị về nước cho đến nay nhà vẫn không xây được mà tiền gửi về cũng không còn. Đến bây giờ anh T vẫn không chăm lo làm ăn, vẫn mải chơi. Mặc dù anh T có đi làm miến ở cơ sở tư nhân nhưng việc chỉ nhiều và đều về mấy tháng cuối năm còn lại là thời gian rảnh. Việc kiếm tiền, chăm lo cho các con để một mình chị gồng gánh chứ anh T không quan tâm xem kinh tế của gia đình như thế nào mà san sẻ trách nhiệm cùng với chị nhưng lại còn mang tiền đi mua cần câu đi câu cá và chơi bời cờ bạc. Thậm chí có lần còn phá cả tủ lấy tiền mừng tuổi của các con và tiền mà chị đi làm thêm tích cóp được. Anh T có hứa hẹn sẽ thay đổi nhưng sau đó 1 tháng vẫn lại tiếp diễn tình trạng đó. Nay chị thấy không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân như vậy nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung Vương Xuân H sinh ngày 02/02/2015 và Vương Xuân Hiếu sinh ngày 05/6/2020. Chị có nguyện vọng được nuôi con chung Vương Xuân H1 vì cháu H muốn ở lại với bố. Chị không có yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con. Từ tháng 5/2026 chị đã chuyển đi thuê nhà gần nhà mẹ đẻ và ở cùng con trai thứ 2. Hiện chị đã làm thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng cho hai mẹ con và xin học cho cháu ở trường tại khu vực này. Công việc hiện nay của chị làm về may thêu vi tính cho hộ kinh doanh (làm cho tư nhân), có hợp đồng lao động, có thu nhập ổn định.
Về tài sản chung và công nợ chung: Chị xác định vợ chồng không có tài sản chung và công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Vương Xuân T trình bày:
Anh và chị Hoàng Thị M có đăng ký kết hôn đúng như chị ấy trình bày. Từ 7 năm nay anh vẫn đi làm miến cho cơ sở tư nhân. Thời gian trước đây chị M đi lao động ở Nhật Bản và gửi tiền về cho bố anh như thế nào thì anh không biết. Anh cũng nhận thấy là trước đây anh đã có những cái sai nhưng mấy tháng nay anh đã bỏ, không còn chơi bời nữa, chỉ có tu chí làm ăn. Do vậy anh mong chị M cho anh một cơ hội sửa chữa sai lầm, những việc xảy ra trước đây bỏ qua hết cho nhau để vợ chồng quay về đoàn tụ và anh sẽ không bao giờ lặp lại những việc làm sai trước đây nữa. Nếu vợ chồng ly hôn thì các con sẽ khổ nên anh không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh và chị M có 02 con chung như chị ấy trình bày. Hiện anh và con Vương Xuân H đang ở nhà cùng với bố mẹ anh. Cháu H1 đi ở cùng với chị M. Công việc của anh là làm miến ở cơ sở tư nhân, cứ làm hết ngày là chủ họ trả lương hoặc có thể để mấy ngày lấy lương cũng được nhưng không có hợp đồng lao động. Nếu trường hợp phải ly hôn, anh mong muốn được nuôi cả hai con và không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con vì anh thấy chị M đang phải đi thuê nhà.
Về tài sản chung và công nợ chung: Anh xác định vợ chồng không có tài sản chung và công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa:
- Chị M vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện.
- Anh T vẫn mong muốn vợ chồng đoàn tụ, không đồng ý ly hôn. Nếu chị M cương quyết ly hôn như vậy thì anh cũng không biết phải làm thế nào và mong muốn được nuôi cả hai con vì thương các con. Anh đi làm miến ở cơ sở tư nhân, còn thời gian rảnh thì ai thuê gì làm nấy, một tháng làm khoảng hơn 10 công với mức thu nhập khoảng 600.000đ/ngày.
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án ; Về việc đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
+ Về việc giải quyết vụ án: căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 01/2024/NQ- HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đề nghị xử cho chị M được ly hôn với T. Về con chung : Giao chị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Vương Xuân Hiếu sinh ngày 05/6/2020 và giao anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Vương Xuân H sinh ngày 02/02/2015; Các bên không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị M, anh T ; Về tài sản chung, công nợ chung có nên không xem xét. Chị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định: [1]. Về thủ tục tố tụng:
Chị Hoàng Thị M khởi kiện xin ly hôn với anh Vương Xuân T hiện có đăng kí thường trú tại xóm Y, thôn T, xã H, thành phố Hà Nội nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Hà Nội theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. [2]. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị M kết hôn với anh Vương Xuân T trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T nay là xã H, thành phố Hà Nội ngày 17/7/2015. Xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Chị M xin ly hôn với anh T vì anh T không chăm chỉ làm ăn, còn mải chơi và lấy cả tiền chị tích cóp được mang đi chơi bời. Đã nhiều lần chị khuyên nhủ nhưng anh T không thay đổi. Anh T không đồng ý ly hôn, mong chị M cho anh cơ hội để sửa chữa, mấy tháng nay anh đã bỏ không còn chơi bời nữa và sẽ không lặp lại những việc làm sai như trước đây. Tuy nhiên, tại phiên toà chị M vẫn cương quyết xin được ly hôn. Thực tế từ tháng 5/2026 chị đã đưa con thứ 2 Vương Xuân H1 đi thuê nhà ở riêng, đăng ký tạm trú cho hai mẹ con tại nơi thuê ở và nhập học cho cháu H1 cũng ở trường trong khu vực đó, thể hiện thái độ không mong muốn đoàn tụ của chị M. Mặt khác trong thời gian ly thân, anh chị không liên lạc, hỏi han, quan tâm đến cuộc sống của nhau. Điều đó cho thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên việc ly hôn là cần thiết. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị M đối với anh T.
- Về con chung: Chị M và anh T có 02 con chung Vương Xuân H sinh ngày 02/02/2015 và Vương Xuân Hiếu sinh ngày 05/6/2020. Hiện nay cháu H và anh T đang sinh sống cùng nhà với bố mẹ anh T. Cháu H1 đang sinh sống cùng với chị M ở nơi thuê trọ và chị M đã nhập học cho cháu ở đây. Cháu H trình bày ý kiến với Toà án mong muốn được tiếp tục ở với bố và ông bà nội. Xét thấy hiện nay hai cháu H, H1 đều đang ổn định môi trường sống, học tập nên không cần thiết phải thay đổi người nuôi dưỡng, thay đổi môi trường sống, học tập của các cháu. Mặt khác, hai bên đương sự đều xác nhận công việc làm miến của anh T ở cơ sở tư nhân chỉ đều việc và ổn định vào 3 tháng cuối năm, còn lại là thời gian rảnh, ai thuê làm gì thì cũng làm. Như vậy, thu nhập của anh T không ổn định để có thể đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các cháu nếu chăm nuôi cả hai con chung. Do đó, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M về việc nuôi con chung. Giao chị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Vương Xuân H1 và giao anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Vương Xuân H cho đến khi các con chung thành niên hoặc khi có quyết định thay đổi khác.
Hai bên đương sự không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho chị M, anh T đến khi các con chung thành niên hoặc khi có quyết định thay đổi khác.
Chị M, anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục các con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và công nợ chung: Chị M, anh T xác định vợ chồng không có tài sản chung và công nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Chị M phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.
. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 01/2024/NQ- HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Hoàng Thị M đối với anh Vương Xuân T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị M được ly hôn với anh Vương Xuân T.
2. Về con chung:
- Giao chị Hoàng Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Vương Xuân Hiếu sinh ngày 05/6/2020 và giao anh Vương Xuân T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Vương Xuân H sinh ngày 02/02/2015, cho đến khi các con chung thành niên hoặc khi có quyết định thay đổi khác.
- Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị M và anh T đến khi các con chung thành niên hoặc khi có quyết định thay đổi khác.
- Chị M, anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục các con chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và công nợ chung: Không có nên không xem xét.
4. Về án phí: Chị Hoàng Thị M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000206 ngày 02/7/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Hoàng Thị M và anh Vương Xuân T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND KV 10-HN;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- THADS TP Hà Nội;
- Các đương sự;
- UBND xã Tân Hoà, Quốc Oai nay là xã Hưng Đạo, Hà Nội (số đăng kí kết hôn 29/2015);
- Lưu:hồ sơ vụ án; VPTA;
Đào Thị Thúy
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Các Hội thẩm nhân dânThẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Hướng dẫn sử dụng mẫu số 52-DS:
Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự. Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Toà án khi xét xử sơ thẩm các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.
Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án sơ thẩm kèm theo:
(1) Nếu là Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi rõ tên Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Toà án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội); nếu là Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi Toà án nhân dân tỉnh (thành phố) đó (ví dụ: Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam).
(2) Ô thứ nhất ghi số bản án, ô thứ hai ghi năm ra bản án, ô thứ ba ghi ký hiệu loại bản án (ví dụ: Nếu là bản án giải quyết tranh chấp về dân sự năm 2017 có số 100 thì ghi: “Số:100/2017/DS-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình năm 2017 có số 108 thì ghi: “Số:108/2017/HNGĐ-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại năm 2017 có số 110 thì ghi: “Số:110/2017/KDTM-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về lao động năm 2017 có số 115 thì ghi: “Số:115/2017/LĐ-ST”).
(3) Ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày.
(4) Ghi quan hệ tranh chấp mà Tòa án giải quyết: Cần xác định tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết được quy định tại Điều, khoản nào của Bộ luật tố tụng dân sự, để ghi vào phần trích yếu của bản án (ví dụ: Tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết là tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân được quy định tại khoản 1 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thì ghi: “tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân”).
(5) Ghi như hướng dẫn tại điểm (1).
(6) Nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà, bỏ dòng “Thẩm phán...”, đối với Hội thẩm nhân dân chỉ ghi họ tên của hai Hội thẩm nhân dân; nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân. Cần chú ý là không ghi chức vụ của Thẩm phán; chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân.
(7) Ghi họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).
(8) Nếu có Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà thì ghi như hướng dẫn tại điểm (1) song đổi các chữ “Toà án nhân dân” thành “Viện kiểm sát nhân dân”.
(9) Trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ “Trong các” (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi “Trong các ngày” (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi: “Từ ngày đến ngày” (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).
(10) Nếu xét xử kín thì thay cụm từ “công khai” bằng từ “kín”.
(11) Ô thứ nhất ghi số thụ lý, ô thứ hai ghi năm thụ lý và ô thứ ba nếu là tranh chấp về dân sự thì ghi “DS”; nếu là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thì ghi “HNGĐ”; nếu là tranh chấp về kinh doanh, thương mại thì ghi “KDTM”; nếu là tranh chấp về lao động thì ghi “LĐ” (ví dụ: số 18/2017/TLST-HNGĐ).
(12) Ghi như hướng dẫn tại điểm (4).
(13) Nguyên đơn là cá nhân thì ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên). Nguyên đơn là cơ quan, tổ chức thì ghi tên cơ quan, tổ chức và địa chỉ của cơ quan, tổ chức đó.
(14) Chỉ ghi khi có người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và ghi họ tên, địa chỉ cư trú; ghi rõ là người đại diện theo pháp luật hay là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn; nếu là người đại diện theo pháp luật thì cần ghi chú trong ngoặc đơn quan hệ giữa người đó với nguyên đơn; nếu là người đại diện theo uỷ quyền thì cần ghi chú trong ngoặc đơn: “văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...”.
Ví dụ 1: Ông Nguyễn Văn A trú tại... là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Giám đốc Công ty TNHH T1).
Ví dụ 2: Bà Lê Thị B trú tại... là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (Văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...).
(15) Chỉ ghi khi có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là Luật sư thì ghi là Luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn L nào); nếu có nhiều nguyên đơn thì ghi cụ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn nào.
(16) và (19) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (13).
(17) và (20) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (14).
(18) và (21) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (15).
(22) Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên).
(23) Ghi họ tên, chức danh, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú).
(24) Ghi họ tên, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú).
(25) Trong phần này ghi rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, của cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu phản tố, đề nghị của bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; ý kiến của Viện kiểm sát; ghi ngắn gọn, đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, tình tiết của vụ án; ghi rõ các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, các tình tiết mà các bên đã thống nhất, không thống nhất; đối với các tình tiết của vụ án mà các bên không thống nhất thì phải ghi rõ lý lẽ, lập luận của từng bên đương sự. (26) Ghi nhận định của Tòa án về những vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án (về áp dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung). Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về chứng cứ và những tình tiết của vụ án; phân tích, viện dẫn những căn cứ pháp luật, án lệ (nếu có) để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự; yêu cầu, đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (nếu có); yêu cầu, đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát (nếu có); giải quyết các vấn đề khác có liên quan. Nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật tố tụng dân sự thì tùy từng trường hợp mà Tòa án phân tích, lập luận về việc áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng.
Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ tự trong dấu [ ].
(27) Tùy từng trường hợp mà ghi rõ các căn cứ pháp luật để ra quyết định.
(28) Ghi các quyết định của Tòa án về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định đó. Đối với trường hợp xét xử sơ thẩm lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thì ghi vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành (nếu có) theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy; trường hợp có quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự thì phải ghi rõ nội dung về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án.
(29) Phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi rõ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát thì ghi như sau:
| Nơi nhận: Ghi những nơi mà Toà án cấp sơ thẩm phải giao hoặc gửi bản án theo quy định tại Điều 269 của Bộ luật tố tụng dân sự và những nơi cần lưu bản án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |