- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quang Điệp " tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Quang Đ phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 554/2022/HS-ST Ngày: 20-12- 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Bà Vũ Thị An
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Chu Văn Hùng
2. Bà Nguyễn Thị Bích Phương
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Minh Trang- Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 12 năm 2022 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 498/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 499/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Trần Quang Đ, tên gọi khác: không ; sinh ngày 04 tháng 4 năm 1980 ;giới tính: nam ; nơi cư trú: xóm C, xã N, huyện H, tỉnh Thái Nguyên ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không ; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 6/12; con ông: Trần Hữu T (đã chết); con bà: Đặng Thị Q, sinh năm 1946; gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ ba; vợ: Đặng Thị L, sinh năm 1980; có 02 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2011;
- Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/8/2022 đến nay.Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên (có mặt tại phiên tòa)
- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Sỹ L – sinh năm 1971
Địa chỉ: Tổ 6, phường T, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ 00 phút ngày 04/8/2022, tổ công tác của Công an phường T, thành phố TN làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 06 của phường thì phát hiện 01 người đàn ông có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, người đàn ông khai tên là Trần Quang Đ và tự giác lấy từ túi áo ngực bên trái Đ đang mặc 01gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng giao nộp cho tổ công tác. Đ khai đó là Heroine vừa mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ vật chứng theo quy định.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TN tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Chất bột màu trắng thu giữ của Trần Quang Đ có khối lượng 0,118 gam, niêm phong ký hiệu V gửi giám định.
Tại Kết luận giám định số 1227/KL-KTHS ngày 12/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu V gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng thu giữ ban đầu là: 0,118 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Quang Đ khai nhận: Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 04/8/2022, Đ đi xe ôm từ nhà thuộc xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đến khu vực thuộc phường T, thành phố TN để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, Đ gặp và mua của 01 người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine được gói bằng giấy bạc màu vàng với giá 200.000 đồng. Mua xong, Đ cất gói Heroine vào túi áo ngực bên trái rồi đi tìm nơi sử dụng. Khi Đ đi đến khu vực tổ 06 phường T, thành phố TN thì bị tổ công tác của Công an phường T phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Vật chứng của vụ án:
- 01 (một) bì niêm phong ký hiệu V chứa chất ma túy.
- 01 (một) bì niêm phong ký hiệu V1 bên trong có chứa bì niêm phong ban đầu.
Hiện số vật chứng nêu trên đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TN chờ xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 453/CT-VKSTPTN ngày 19/10/2022, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Trần Quang Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố TN sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng như nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Quang Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Quang Đ từ 18 đến 24 tháng tï. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong kí hiệu V, V1. Về án phí, đề nghị áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến gì tranh luận.
Trong phần lời nói sau cùng, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
. Về nội dung vụ án: Hồi 08 giờ 00 phút ngày 04/8/2022, tại khu vực tổ 06, phường T, thành phố TN, Trần Quang Đ đang có hành vi tàng trữ 0,118 gam Heroine để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác của Công an phường T, thành phố TN phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lờ i khai nhâ ̣n tô ̣i của bi ̣ cáo phù hợp vớ i biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, lờ i khai ta ̣i cơ quan điều tra, lờ i khai của người chứ ng kiến, vật chứng đã thu giữ, bản kết luâ ̣n giám đi ̣nh và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Vì vậy, việc truy tố để xét xử đối với bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Nội dung Điều 249 Bộ luật hình sự quy định như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển ..., thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”
...
c) Heroine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo không có tiền án, tiền sự, là đối tượng nghiện chất ma túy. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự
Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo cất giữ ma tuý với mục đích để sử dụng cho bản thân, không có mục đích bán để kiếm lời, mặt khác bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Vật chứng của vụ án: Đối với 02 phong bì niêm phong kí hiệu V1, V bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu ban đầu là vật chứng của vụ án không có giá trị và giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa về hình phạt đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc so với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.
Trong vụ án này, bị cáo Đ khai mua ma túy của một người đàn ông không rõ lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TN không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự,
Tuyên bố: Bị cáo Trần Quang Đ phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Trần Quang Quang Đ 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/8/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2. Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu V, V1.
(Số vật chứng nêu trên đang được bảo quản tại kho của Chi cục thi hành án dân sự TP TN. Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng số 210 ngày 20/12/2022 giữa cơ quan Công an TP TN và Chi cục Thi hành án dân sự TP TN).
3. Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo Trần Quang Đ phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -VKSND TPTN; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - Công an TPTN; - Chi cục THADS TPTN; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên - UBND xã N, H.H, TN; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ VA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (ĐÃ KÝ) |