- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án táng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về vật chứng: Áp dụng c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 553/2019/HSST Ngày: 21/11/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà: Lê Thị H.
Các Hội thẩm nhân dân:bà Trần Thị Như H, ông Nguyễn Thanh H
Thư ký ghi biên bản phiên toà: bà Nguyễn Thị T - Thư ký Toà án nhân dân Thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Đại diện VKSND Thành phố V tham gia phiên toà: ông Nguyễn Quang T
- chức vụ: Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố V, tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 541/2019/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2019theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 635/2019/QĐXXST-HS ngày 6 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Quang T. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 23 tháng 11 năm 1979. Nơi cư trú: khối 12, phường BT, Thành phố V, tỉnh A. Quốc tịch: Việt Nam.
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: lao động tự do. Con ông: Nguyễn Văn L ( Đã chết). Con bà: Phan Thị H- Sinh năm: 1950. Anh, chị, em ruột: có 03 người, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình. Vợ: Trần Thị V - sinh năm 1983; con: có 02 con. Tiền án, tiền sự: chưa
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tam giam từ ngày 12 tháng 9 năm 2019 cho đến nay. (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:Vào khoảng 22 giờ 15 phút ngày 11 tháng 9 năm 2019, trước số nhà 147, đường Phong Định Cảng thuộc phường TH, Thành phố V, Nguyễn Quang T đang có hành vi cất giữ trái phép 01 gói ma túy có khối lượng 0,410 gam thì bị phát hiện bắt quả tang. Tại cơ quan điều tra: Nguyễn Quang T khai nhận: do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 11/9/2019 T gọi điện cho một người không quen biết tên X để hỏi mua 300.000đ ma túy. X đồng ý và hẹn T đến quán nước gần sân bóng phường HD gặp người đàn ông mặc quần đùi, áo ba lỗ màu trắng để mua ma túy. Sau đó T đi xe máy đến địa điểm trên thì gặp một người như X mô tả và hỏi anh có phải bạn anh X không thì người này gật đầu. T đưa cho người này 300.000đ và nhận 01 gói ma túy được bỏ vào trong bao thuốc lá Vinataba màu vàng. Mua được ma túy thì T đi xe về khi đi đến số nhà 147 đường Phong Định Cảng thì bị Công an kiểm tra hành chính phát hiện thu giữ trong túi quần của T 01 gói ma túy trong bao thuốc lá và đưa người về trụ sở Công an làm việc.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại do Công an Thành phố V lập ngày 12/9/2019 và Kết luận giám định số 1266/KL-PC09(MT) ngày 16/9/2019 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu chất tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Quang T gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine) có khối lượng là 0,410g.
Cáo trạng số 567/CT – VKSTP ngày 01/11/2019 của VKSND Thành phố V truy tố bị cáo Nguyễn Quang T về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s,t khoản 1 điều 51, khoản 2 điều 51, điều 54 BLHS, xử phạt: Nguyễn Quang T từ 8 – 10 tháng tù. Không áp dụng phạt hình bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình. Tịch thu tiêu hủy 01 gói ma túy (Methamphetamine), có khối lượng 0,410 gam ma túy (Methamphetamine) thu giữ của Nguyễn Quang T.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, mà chỉ xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an Thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về nội dung: Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Quang T khai nhận hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, biên bản phạm tội quả tang, nội dung cáo trạng truy tố, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định:vào khoảng 22 giờ 15 phút ngày 11 tháng 9 năm 2019, trước số nhà 147, đường Phong Định Cảng thuộc phường TH, Thành phố V, Nguyễn Quang T đang có hành vi cất giữ trái phép 01 gói ma túy có khối lượng 0,410 gam nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.Hành vi nêu trên mà bị cáo Nguyễn Quang T thực hiện đãphạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS mà VKS truy tố là đúng người, đúng tội.
. Về tính chất vụ án: Vụ án thuộc loại nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã xâm phạm đến trật tự công cộng, vi phạm quy định của Nhà nước về việc quản lý các chất ma tuý. Bản thân bị cáo là một thanh niên tuổi đời còn trẻ, có sức khỏe nhưng không chịu tu chí rèn luyện, lao động làm ăn lương thiện mà do thiếu bản lĩnh, ăn chơi đua đòi nên đã sớm sa vào con đường phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có cơ hội cách ly khỏi những đối tượng buôn bán ma túy và cải tạo bị cáo thành người công dân tốt đồng thời phòng ngừa chung trong xã hội.Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì quá trình điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn, quá trình sinh sống tại địa phương đã có công giúp đỡ đồn biên phòng phát hiện bắt giữ tội phạm, gia đình bị cáo có bố là người có công với cách mạng được tặng thưởng huy chương kháng chiến. Các tình tiết đó được quy định tại điểm s,t khoản 1 điều 51, khoản 2 điều 51 BLHS nên cần áp dụng điều 54 xử phạt bị cáo mức án dưới khung hình phạt như VKS đề nghị cũng đủ nghiêm.
Theo lời khai của Nguyễn Quang T có người tên X bán ma túy cho bị cáo nhưng không biết lại lịch địa chỉ nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố V đang tiếp tục xác minh làm rõ, khi làm rõ sẽ xử lý sau.
. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.
. Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án: 01 (Một) phong bì thư đựng chất ma túy (Methamphetamine) cần tịch thu tiêu hủy
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s,t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 54 BLHS, xử phạt: Nguyễn Quang T 08 (Tám) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/9/2019.
- Về vật chứng: Áp dụng c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong dán kín bên trong đựng số ma túy (Methamphetamine) khối lượng 0,410g thu giữ của Nguyễn Quang T, số tang vật này hiện có tại kho tang vật thi hành án dân sự Thành phố V theo phiếu nhập kho số NK0064 ngày 4/11/2019.
- Án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2017/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Quang T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSNDTP Vinh; - VKSND Tỉnh NA - Chi cục THADSTP V; - Công an TP V; - TAND tỉnh A; - Sở tư pháp tỉnh A - Bị cáo; Lưu HS | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) |