- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân Hàng A"
- Tòa quyết gì? quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN C THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 553/2019/DS-ST Ngày: 20-11-2019 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN C, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Nhất Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Dung
2. Ông Hoàng Thiên Văn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Sương – Cán bộ Tòa án nhân dân
Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên toà: Ông Hoàng Thế Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận C, Thành
phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 250/2019/TLST-DS
ngày 20 tháng 6 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số 226/2019/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 10 năm
2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 177/2019/QĐST-DS ngày 29 tháng 10 năm
2019, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng A.
Trụ sở: đường A, phường B, quận C, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà H - Theo văn bản ủy quyển số
06/2019/UQ-GDK-TDTD ngày 16/5/2019 (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Bà N, sinh năm 1963 (Vắng mặt)
Địa chỉ: đường A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 16/5/2019 của nguyên đơn Ngân hàng A và quá
trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bà H đại diện trình bày:
Ngày 22/5/2013, bà N và Ngân hàng A (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) ký
hợp đồng tín dụng số 20130522-100105-0001 vay số tiền 27.562.500 đồng với lãi suất thỏa thuận 5,15%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận hợp đồng, bà N có trách nhiệm thanh toán số tiền 38.370.000 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 12 tháng; 11 tháng đầu, mỗi tháng trả số tiền 3.137.000 đồng, tháng cuối cùng trả số tiền 3.863.000 đồng. Thanh toán vào ngày 01 hàng tháng, Bắt đầu thực hiện từ ngày 01/7/2013.
Thực hiện hợp đồng, khách hàng đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân
và thanh toán cho Ngân hàng được tổng số tiền là 16.274.000 đồng. Kể từ ngày 13/4/2015 đến nay bà N không thanh toán thêm bất cứ khoản nào dù Ngân hàng đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở.
Nay ngân hàng A yêu cầu Toà án buộc bà N phải thanh toán toàn bộ số
tiền nợ là 22.096.000 đồng (trong đó nợ gốc là 15.747.825 đồng và nợ lãi là 6.348.175 đồng), trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Trong quá trình Toà án giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ
án ra xét xử, Toà án đã tiến hành triệu tập bà N đến Toà để tiến hành mở phiên họp công khai chứng cứ, hoà giải và tham gia phiên tòa nhưng bà N đều vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến phản đối.
Tại phiên tòa, Ngân hàng A xin được xét xử vắng mặt và giữ nguyên
yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà N phải thanh toán một lần toàn bộ số tiền nợ là 22.096.000 đồng (trong đó nợ gốc là 15.747.825 đồng và nợ lãi là 6.348.175 đồng), thực hiện ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn vắng mặt không có ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận C phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Từ giai đoạn
thụ lý vụ án đến khi nghị án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý cũng
như tại phiên toà hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Đề nghị Toà án căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
Về nội dung: Hợp đồng tín dụng số 20130522-100105-0001 ngày
22/5/2013 được ký kết giữa Ngân hàng A và bà N, việc thực hiện giao dịch trên là do các bên hoàn toàn tự nguyện nên được pháp luật bảo vệ. Quá trình thực hiện hợp đồng bà N vi phạm nghĩa vụ thanh toán về tiền nợ gốc và lãi nên đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn thanh toán số tiền 22.096.000 đồng (trong đó nợ gốc là 15.747.825 đồng và nợ lãi là 6.348.175 đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét
tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Toà án nhận định:
. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ trong hợp đồng tín dụng,
nên có cơ sở xác định tranh chấp giữa hai bên là “Tranh chấp hợp đồng tín
dụng” theo quy định tại Điều 474 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Bị đơn đang cư
trú tại Quận C nên tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân
dân Quận C theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều
39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Đại diện uỷ quyền của nguyên đơn bà H có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng
mặt. Bị đơn bà N đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên
tòa, nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo
quy định tại khoản 1, 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân
sự.
Tại phiên tòa, nguyên đơn xin được xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu
cầu khởi kiện, yêu cầu bà N phải thanh toán một lần toàn bộ số tiền nợ là
22.096.000 đồng (trong đó nợ gốc là 15.747.825 đồng và nợ lãi là 6.348.175
đồng), thực hiện ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
. Về yêu cầu của nguyên đơn:
Căn cứ Đơn đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 20130522-
100105-0001 ngày 22/5/2013 được ký kết giữa Ngân hàng A và bà N được giao
kết hợp pháp vì có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét số tiền nợ gốc 15.747.825 đồng, Ngân hàng A đã giải ngân cho bà N
với số tiền là 27.562.500 đồng. Bà N đã thanh toán tổng số tiền là 16.274.000
đồng (Trong đó, tiền nợ gốc là 11.814.675 đồng và lãi là 4.459.325 đồng). Từ
ngày 13/4/2015 đến nay bà N không thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng. Do
đó, căn cứ Điều 474 của Bộ luật Dân sự năm 2005 yêu cầu của nguyên đơn buộc
bà N phải thanh toán số tiền gốc còn lại 15.747.825 đồng là có cơ sở chấp nhận.
Đối với tiền lãi: Các bên thỏa thuận mức lãi suất là 5,15%/tháng, việc
thỏa thuận mức lãi suất giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, đồng thời không
trái với quy định tại khoản 5 Điều 474 của Bộ luật Dân sự năm 2005 và khoản 2
Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng. Bà N mới thanh toán số tiền lãi là
4.459.325 đồng. Do vậy, nguyên đơn yêu cầu bà N thanh toán số tiền lãi còn
thiếu là 6.348.175 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét yêu cầu của Ngân hàng A yêu cầu bà N phải trả số tiền trên ngay khi
bản án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy số tiền nợ trên đã lâu, nếu
tiếp tục kéo dài sẽ ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, từ
những phân tích trên có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bà N
phải trả số tiền nợ trên một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
. Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn
phải chịu án dân sự sơ thẩm là 1.104.800 đồng theo quy định Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1
Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 474 của Bộ luật Dân sự năm 2005;
Căn cứ khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng;
Căn cứ Điều 6, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng A về việc yêu
cầu bà N trả nợ.
Buộc bà N có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng A số tiền
22.096.000 (Hai mươi hai triệu, không trăm chín mươi sáu ngàn) đồng [Trong đó, nợ gốc là 15.747.825 (Mười lăm triệu, bảy trăm bốn mươi bảy ngàn, tám trăm hai mươi lăm) đồng, nợ lãi là 6.348.175 (Sáu triệu, ba trăm bốn mươi tám ngàn, một trăm bảy mươi lăm) đồng], ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối
với các khoản tiền phải trả cho người thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm là 1.104.800 (Một triệu, một trăm lẻ bốn
ngàn, tám trăm) đồng bà N chịu.
Hoàn trả cho Ngân hàng A số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp
là 552.400 (Năm trăm năm mươi hai ngàn, bốn trăm) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0017454 ngày 13/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận C.
3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM, - VKSND Quận C, - Chi cục THADS Quận C, - Các đương sự, - Lưu VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Nhất Dũng |