- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp Hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với ông Ngô Nhật H về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
- Căn cứ chính? Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 552/2025/DS-ST Ngày: 30-6-2025 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Nguyên
2. Ông Võ Hoàng Thu
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Ngô Hoàng Phương Đại- Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 14/2025/TLST-DS ngày 06 tháng 01 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 471/2025/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 05 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 435/2025/QĐST-DS ngày 09 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S; địa chỉ: phường V, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Gia T là đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền số 7842/2024/UQ-TGĐ ngày 11/11/2024); (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Ông Ngô Nhật H, sinh năm 1992;
Địa chỉ: xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 09/12/2024 và trong quá trình giải quyết, đại diện nguyên đơn ông Trần Gia T trình bày:
Ngày 24/02/2021, ông H ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Ngân hàng S) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), hạn mức tín dụng là 120.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, với lãi suất tại thời điểm mở thẻ là 2.766%/tháng.
Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng Ngân hàng S áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 24 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ông H phải chịu các khoản phí theo quy định trong Điều 25 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.
Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 197.800.000 đồng. Từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, ông H đã thanh toán cho Ngân hàng Ngân hàng S tổng số tiền 181.715.000 đồng. Mặc dù, Ngân hàng Ngân hàng S đã nhiều lần nhắc nhở, yêu cầu ông H có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ. Tuy nhiên, ông H vẫn không có thiện chí trả nợ, chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.
Ngày 16/9/2023, Ngân hàng Ngân hàng S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 77.821.408 đồng sang nợ quá hạn, với mức lãi suất là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại.
Từ tháng 06/2024 đến tháng 02/2025 ông H thanh toán thêm vào thẻ tín dụng số tiền 18.000.000 đồng nên nợ gốc của ông H hiện còn lại là 59.821.408 đồng.
Nay Ngân hàng Ngân hàng S khởi kiện yêu cầu Tòa giải quyết buộc ông Ngô Nhật H trả ngay cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số nợ tạmtính đến ngày 30/6/2025 là 124.666.402 đồng (Một trăm hai mươi bốn triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn bốn trăm lẻ hai đồng). Trong đó: nợ gốc là 59.821.408 đồng, nợ lãi là 64.844.994 đồng. Đồng thời ông Ngô Nhật H có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 01/7/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định trong hợp đồng.
Đối với bị đơn ông Ngô Nhật H:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đương sự tham gia tố tụng theo quy định; nhưng ông H vắng mặt không có lý do, không thể hiện ý kiến của mình bằng bất cứ văn bản nào nên vụ án không tiến hành hòa giải được và được đưa ra xét xử công khai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật như sau:
- Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về tố tụng. Việc tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự đều đã được thực hiện đúng quy định nên việc xét xử vắng mặt các đương sự vừa nêu là phù hợp với quy định của pháp luật. Thời hạn đưa vụ án ra xét xử đảm bảo theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn phải chịu nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện yêu cầu ông Ngô Nhật H trả số tiền vay theo Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng mà các bên đã ký, đây là quan hệ “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; bị đơn có nơi cư trú tại huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về việc xét xử vắng mặt đương sự
- Về việc xét xử vắng mặt nguyên đơn: Ngày 07/5/2025 đại diện nguyên đơn ông Trần Gia Thế có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Xét thấy yêu cầu vắng mặt của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng đúng quy định, nhưng ông Ngô Nhật H không đến Tòa án trong cả hai lần được Tòa án triệu tập mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và hai lần Tòa án mở phiên tòa xét xử. Do vậy việc xét xử vắng mặt ông Ngô Nhật H là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Về nội dung:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín yêu cầu ông H có nghĩa vụ trả ngay số tiền nợ của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tính đến ngày 30/6/2025 là 124.666.402 đồng (Một trăm hai mươi bốn triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn bốn trăm lẻ hai đồng). Trong đó:nợ gốc là 59.821.408 đồng, nợ lãi là 64.844.994 đồng.
Căn cứ “Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng” ngày 24/02/2021 có chữ ký và ghi tên Ngô Nhật H có cơ sở để xác định Ngân hàng Ngân hàng S đã cấp thẻ tín dụng cho ông H hạn mức tín dụng là 120.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất tại thời điểm mở thẻ là lãi suất áp dụng 2.766%/tháng trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về hình thức và nội dung nên được thừa nhận và bảo vệ và là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự theo quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS).
Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 197.800.000 đồng. Từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, ông H đã thanh toán cho Ngân hàng Ngân hàng S tổng số tiền 189.715.000 đồng. Đến ngày 16/9/2023 Ngân hàng Ngân hàng S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn là 77.821.408 đồng đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại). Việc ông H ngưng không thanh toán số tiền nợ còn lại cho Ngân hàng Ngân hàng S là vi phạm về nghĩa vụ thanh toán. Do đó, Ngân hàng Ngân hàng S khởi kiện yêu cầu ông H trả toàn bộ số nợ còn lại và tiền lãi là phù hợp với quy định tại Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Theo kết quả xác minh của Công an xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh: “Tại địa chỉ 2006 đường Vĩnh Lộc, ấp 50 xã Vĩnh Lộc B không có ai tên Ngô Nhật H sn 1992 đăng ký thường trú, tạm trú và thực tế cư trú. Hiện đương sư H đang cư trú tại xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh”.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Ngô Nhật H đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, trong đó nêu rõ yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả một lần toàn bộ số tiền còn nợ của “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng” nhưng bị đơn không có ý kiến phản đối yêu cầu của nguyên đơn. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 (BLTTDS) thì một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh. Do ông H không phản đối yêu cầu và chứng cứ mà bên nguyên đơn đưa ra nên coi như ông H chấp nhận yêu cầu trên của nguyên đơn.
Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh: Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền còn nợ của “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng” là 124.666.402 đồng (Một trăm hai mươi bốn triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn bốn trăm lẻ hai đồng). Trong đó:nợ gốc là 59.821.408 đồng, nợ lãi là 64.844.994 đồng.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; Điều 227; Điều 228; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 117, 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 26 của Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014);
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với ông Ngô Nhật H về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
2. Buộc ông Ngô Nhật H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền còn nợ của “Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng” tạm tính đến ngày 30/6/2025 là 124.666.402 đồng (Một trăm hai mươi bốn triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn bốn trăm lẻ hai đồng). Trong đó: nợ gốc là 59.821.408 đồng, nợ lãi là 64.844.994 đồng.
Kể từ ngày 01/7/2025, ông Ngô Nhật H còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi quá hạn và các khoản phí phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại “Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng” ngày 24/02/2021.
3. Về án phí:
Ông Ngô Nhật H chịu án phí dân sự sơ thẩm là 6.233.320 đồng (Sáu triệu hai trăm ba mươi ba nghìn ba trăm hai mươi đồng).
Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.862.674 đồng (Hai triệu tám trăm sáu mươi hai nghìn sáu trăm bảy mươi bốn đồng) theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu: BLTU/24P số 0051683 ngày 31/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 của Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: Đương sự; VKSND H. Bình Chánh; CCTHADS huyện Bình Chánh Lưu: VT, hồ sơ vụ án (11). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Tuyết |