vanban.org

Bản án 552/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 20/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo NTA phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”

Xử phạt: NTA 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù t nh từ ngày 27/7/2022. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự. + Tịch thu tiêu hủy: - 01 bì niêm phong ký hiệu T1 bên trong chứa 0,149 ma túy Heroine và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định.- 01 bì niêm pho… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tuấn Anh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo NTA phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 552/2022/HSST
Ngày 20/12/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Chinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Thu.

2. Ông Trần Sinh Tụ.

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Quyên, cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 20/12/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 524/2022/HSST ngày 07/11/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 491/2022/QĐXXST-HS ngày 02/12/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: NTA, sinh ngày 12 tháng 12 năm 1969; Tên gọi khác: Không; Giới t nh: Nam; Nơi cư trú: Tổ 6, phường PĐP, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học v n: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, đoàn thể, ch nh quyền): Không; Con ông: Nguyễn Đình H, sinh năm 1935; Con bà: Lương Thị L, sinh năm 1942 ; Vợ: Lương Thị N, sinh năm 1988; Có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2017; Gia đình có 04 anh chị em. Bị cáo là con thứ hai; Tiền án: Không;

Tiền sự: 01. Tại Quyết định số 133/QĐ-TA ngày 22/4/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, NTA bị áp dụng biện pháp xử lý hành ch nh đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 14 tháng. Ch p hành xong ngày 17/12/2020.

- Nhân thân: + Tại bản án số 474/HSST ngày 23/12/1996 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, xử phạt NTA 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”. Thi hành án phạt tù xong ngày 02/11/1997. Phần thi hành án dân sự xong 18/6/1998.

+ Tại bản án số 155/HSST ngày 16/8/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xử phạt NTA 5 năm tù về tội “Cố ý gây thương t ch”. Thi hành án phạt tù xong ngày 27/7/2010. Phần thi hành án dân sự xong 23/3/2018.

+ Tại Quyết định số 50/QĐ-UB ngày 14/01/2000 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên, NTA bị áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng.

+ Tại Quyết định số 3149/QĐ-UB ngày 11/10/2005 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên, NTA bị áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm Giáo dục - Lao động- xã hội thành phố Thái Nguyên.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên (bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/7/2022). (Có mặt tại phiên tòa).

Ngƣời làm chứng: Ông TXT, sinh năm 1958. (Vắng mặt).

Trú quán: Tổ 4, phường PĐP, thành phố Thái Nguyên.

Ngƣời chứng kiến: 1. Anh NNT, sinh năm 1988. (Vắng mặt).

Trú quán: Tổ 5, phường PĐP, thành phố Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 12 giờ 10 phút ngày 27/7/2022, tổ công tác của Công an phường PĐP, thành phố Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trên địa bàn, khi đến khu vực tổ 6, phường PĐP, thành phố Thái Nguyên phát hiện 1 người đàn ông khoảng 50 tuổi đang đi bộ có biểu hiện nghi v n liên quan đến ma túy. Tổ công tác tiếp cận, yêu cầu kiểm tra và mời người chứng kiến quá trình kiểm tra, người đàn ông ch p hành, tự khai tên là NTA và tự giác giao nộp cho tổ công tác từ lòng bàn tay phải 01 gói gi y màu trắng, bên trong chứa ch t bột màu trắng (TA khai nhận là ma túy Heroine của TA mua về để sử dụng cho bản thân). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với NTA và niêm phong thu giữ vật chứng theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành cân xác định khối lượng số ch t bột màu trắng thu giữ của NTA có khối lượng là 0,154 gam. Tiến hành l y toàn bộ số ch t bột màu trắng trên niêm phong ký hiệu T1 giữ giám định.

Tại Bản kết luận giám định số 1184/KLGĐ ngày 04/8/2022 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: ch t bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu T1 gửi giám định là ch t ma túy, loại Heroine, khối lượng thu giữ ban đầu là 0,154 gam.

Tại Cơ quan điều tra, NTA khai nhận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 27/7/2022, TA đi bộ từ nhà ở tổ 6, phường PĐP, thành phố Thái Nguyên đến khu vực đèn xanh đỏ gần nhà xác Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Đến nơi, TA gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy (Heroine) được gói bên ngoài bằng gi y màu trắng với giá 100.000 đồng. Mua xong, TA cầm gói ma túy trên ở lòng bàn tay phải rồi đi bộ về nhà ở tổ 6, phường PĐP, thành phố Thái Nguyên để sử dụng nhưng khi TA đi về trước cửa nhà thì bịtổ công tác Công an phường PĐP, thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên.

Lời khai nhận của NTA phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án là: - 01 bì niêm phong ký hiệu T1 bên trong chứa 0,149 ma túy Heroine và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định.- 0 bì niêm phong ký hiệu T2 chứa vỏ bì niêm phong ban đầu.

Hiện được chuyển đến bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

Bản cáo trạng số 537/CT-VKSNDTPTN ngày 07/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố NTA về tội "Tàng trữ trái phép ch t ma túy" theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, trong phần luận tội đối với bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân t ch, đánh giá các chứng cứ đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo NTA phạm tội Tàng trữ trái phép ma túy. Đề nghị: Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt NTA mức án từ 21 đến 24 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định..

Bị cáo phải chịu án ph và được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Trong phần tranh luận: Bị cáo không tranh luận gì, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là không oan, đúng người, đúng tội;

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt đến mức th p nh t để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1] .Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc kiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

.Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, bị cáo xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố là đúng người, đúng tội. Xét th y lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai người làm chứng, người chứng kiến.. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Hồi 12 giờ 10 phút ngày 27/7/2022, tại khu vực tổ 6, phường PĐP, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, NTA có hành vi tàng trữ 0,154 gam ma túy, loại Heroine mục đ ch sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường PĐP, thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng.

Đánh giá của Hội đồng xét xử: Bị cáo là người đủ năng lực hành vi trách nhiệm dân sự và biết ma túy là vật c m và được Nhà nước quản lý nhưng vẫn cố tình tàng trữ trái phép ma túy là 0,154 gam Heroine mục đ ch để sử dụng cho bản thân. Do vậy hành vi của bị cáo đã đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Nội dung điều 249 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a, ....

c, Heroine...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam"

Do vậy bị cáo phải chịu hình phạt mà điều luật đã quy định.

Xét t nh ch t mức độ của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng ch t gây nghiện, gây m t trật tự trị an ở địa phương và là một trong các nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội khác..

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người có nhân thân x u đã từng bị Tòa án xét xử bằng bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo đã ch p hành xong hình phạt tù và án ph theo quy định. Bị cáo có 01 tiền sự tại Quyết định số 133/QĐ-TA ngày 22/4/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, NTA bị áp dụng biện pháp xử lý hành ch nh đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 14 tháng. Ch p hành xong ngày 17/12/2020. Nhưng bị cáo không l y đó làm bài học cho bản thân để trở thành công dân có ch cho xã hội, lại nghiện ma túy và tàng trữ trái phép ch t ma túy.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào..

Từ những nội dung nêu trên Hội đồng xét xử th y cần xử phạt bị cáo mức án từ 21 đến 24 tháng tù như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là phù hợp..

Vật chứng của vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy - 01 bì niêm phong ký hiệu T1 bên trong chứa 0,149 ma túy Heroine và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định.-0 bì niêm phong ký hiệu T2 chứa vỏ bì niêm phong ban đầu.

Về các v n đề khác: Về nguồn gốc số ma túy, NTA khai nhận mua của một người đàn ông bán ma túy không rõ lai lịch, địa chỉ. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở làm rõ để xử lý.

Về hình phạt bổ sung và án ph : - Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt ch nh lẽ ra Hội đồng xét xử phạt bổ sung bị cáo. Tuy nhiên bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản và thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;

- Về án ph : Bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố:

1. Bị cáo NTA phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”

Căn cứ vào điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s, khoản 1, Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

2. Xử phạt: NTA 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù t nh từ ngày 27/7/2022.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự. + Tịch thu tiêu hủy: - 01 bì niêm phong ký hiệu T1 bên trong chứa 0,149 ma túy Heroine và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định.- 01 bì niêm phong ký hiệu T2 bì ban đầu.

(Hiện được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên theo tình trạng biên bản giao nhận vật chứng 190 ngày 07/12/2022).

4. Về án ph : Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án ph và lệ ph Tòa án. Buộc bị cáo NTA phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án ph hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ